Lên 5 tuổi, một chiều 30 Tết, tôi hỏi mẹ: “Mẹ ơi, Tết chín chưa mẹ?”. Đang luộc bánh chưng, mẹ phì cười. Chị gái cũng chế giễu tôi dùng nhầm từ. Chị bảo: Tết đến, chỉ có “Tết đến” chứ có bao giờ “Tết chín”? Tôi ngượng đỏ mặt, khóc dỗi, bắt đền mẹ và chị. Tôi khóc mãi, dấm dứt chừng nửa tiếng, cho đến khi mẹ tuyên bố nồi bánh chưng đã xong và hô hào bố cùng chị gái chuẩn bị vớt bánh. Chị tôi ngả cái thuyền ra hiên, đổ vào lưng thuyền nước giếng. Bố tháo hai cánh cửa gỗ, ngả xuống hiên. Lại mang hai cái cối đá nhỏ đặt sẵn bên cạnh, chuẩn bị nén bánh. Tất cả mọi người đều tất bật, không một ai để ý đến tôi vẫn dấm dứt khóc bên gốc khế già, vào dịp Tết đang bật nở những chùm hoa tím ngát.

Chị gái cầm cái rổ sảo to tướng, khom lưng cạnh bếp, hứng từng chiếc bánh chưng mẹ “gắp” từ trong chiếc nồi đồng bốc khói nghi ngút, thả vào. Được chừng dăm chiếc, chị lễ mễ bưng ra, thả từng chiếc một vào thuyền nước. Cha đứng cạnh thuyền, chờ chiếc bánh ngập tủm xuống lòng nước lạnh rồi vớt lên, xếp ngay ngắn trên tấm cửa gỗ. Cha bảo: “Bánh phải nén chừng nửa tiếng thì mới dền”. Còn chị gái thì luôn miệng kêu: “Nặng quá! Thơm quá!”… Bưng được chừng đến sảo bánh thứ tư, chị reo lên: “Anh Meo đâu? Bánh muội chín đây này!”. Tôi òa khóc. Lúc ấy, tôi không hiểu vì sao mình khóc. Có thể vì tủi thân. Có thể vì uất ức. Có thể vì nỗi vui sướng vỡ òa, tôi phát hiện ra rằng mình đúng: tôi đã nói rằng “Tết chín”. Bánh muội chín tức là Tết chín! Vậy mà không ai tin tôi? Ai cũng cười nhạo tôi. Giờ “Tết chín” rồi nhé. Vì Tết của tôi, Tết sung sướng nhất của tôi, chính là cái bánh chưng muội.

Lên 5 tuổi, mọi sự đúng sai đối với tôi lúc đó còn quá mơ hồ. Nhưng sau này, tôi biết rằng mình có cái đúng của một linh cảm ngây thơ nhưng thấm thía từ vô thức về tình yêu cái bánh muội của cha tôi.

Cha tôi là người đàn ông rất có hoa tay. Cha khéo léo, tỉ mẩn, gọt sáo, làm diều, đan lồng chim, đan quạt hay rổ rá đều rất đẹp. Cha bị hen suyễn. Từ khi tôi tròn 1 tuổi, có thể nhớ được những chuyện xảy ra trong nhà, đã thấy cha ho sù sụ suốt ngày, nhất là về mùa đông. Cha rất gầy, có những đận ốm nặng, ho dữ, người cha chỉ còn da bọc xương. Cha tiều tụy và khắc khổ. Lại có lúc người cha phù thũng, cứ “béo” lên từng ngày, da dẻ đỏ hồng khó tả. Trong những đợt ho hành hạ không dứt, cha không nằm được như bình thường. Cha phủ phục suốt đêm, trong trạng thái quỳ co gối, lưng còng rạp xuống giường như người ta tế lạy lúc hành lễ. Đôi bàn tay cha ngửa lên để đỡ cho cái đầu gục vào. Cứ thế, cha phủ phục suốt đêm, hết mùa đông này qua mùa đông khác, cùi tay và đầu gối chai cứng lại. Cha bảo, phổi nằm bám theo xương sống, phủ phục như thế, là để phổi không bị bộ phận nào trong cơ thể đè lên, nó mới có ô xy để thở. Tội nghiệp cha! Quả thật, cứ phủ phục như thế, cha bớt ho hơn.

Trở lại với tấm bánh muội của cha. Nhà tôi có một vườn trồng lá dong bánh mật, thứ lá chỉ dùng để gói duy nhất bánh chưng. Có vài ba loại lá dong, phổ biến người ta dùng lá dong rừng, lá to, dễ gói, nhưng màu bánh bị thâm. Dong bánh mật, sở dĩ gọi là dong bánh mật vì nó có màu xanh hơi ngả vàng, lá to, bản lá dày, dai mà óng, mịn như lụa. Đem gói bánh chưng, lá cho thứ bánh màu xanh cốm non. Màu lá không quá quện bết vào bánh, nên bánh giữ được mùi thơm đặc trưng của nó, và đặc biệt là khi để dành, bánh không bị chảy nhớt. Người sành ăn bánh chưng rất biết giá trị của chiếc bánh được gói bằng lá dong bánh mật. Năm nào lá dong nhà tôi cũng rất đắt hàng. Bán chợ đã đành, cả làng đều mua lá dong bánh mật nhà tôi. Cứ giáp Tết, tôi phụ cha mẹ bó lá cho chị đem bán. Chị hứa sẽ mua cho tôi quần áo diện Tết. Còn cha, cha hứa một tấm bánh muội ngon nhất trần đời.

Gọi là bánh muội, vì đó là tấm bánh chưng bé hơn hẳn so với những bánh chưng Tết. Nó được gói cuối cùng, khi những tấm bánh lớn đã vuông vức đâu vào đấy, và trên mâm nguyên liệu làm bánh bao giờ cũng thừa lại chút gạo nếp, chút nhân đậu xanh, vài miếng thịt. Gói tấm bánh muội là để dành cho trẻ con. Chúng sẽ được thưởng thức ngay khi bánh được vớt ra khỏi nồi, không cần “tắm” qua nước lạnh và không cần nén cho dền lại. Bánh nóng hổi, thơm lựng. Với tôi, đó là miếng bánh thèm nhất, đợi chờ nhất và đương nhiên, ngon nhất của cả một cái Tết.

Cha khéo tay, gói bánh không bao giờ cần khuôn. Đặt lạt đối xứng, cha xếp hai tấm lá dưới cùng, tiếp đến lớp lá nhỏ để “độn”. Bốn tấm lá đẹp, vừa phải, được xếp đối xứng bên trên, cha gọi là “tấm áo” để gói gạo - áo này quan trọng nhất đối với chiếc bánh, phải chọn lá đều, không rách. Không bao giờ cha cần dùng kéo để cắt sửa một chiếc lá nào. Nếu lá có dài một chút, cha chỉ cần gấp đầu lá lại. Vừa gói, cha vừa giảng giải cho tôi cách làm thế nào để gói tấm bánh đẹp, luộc tấm bánh ngon. Tấm bánh cha gói bao giờ cũng vuông thành sắc cạnh không chê vào đâu được và mười tấm như nhau cả mười.

Tôi quan sát thấy nhiều nhà gói bánh bằng tất cả các nguyên liệu sống. Tức là gạo sống, đậu sống, chỉ được ngâm cho nở ra. Thịt để sống, ướp mắm tiêu, với hành sống. Nhưng ở nhà tôi, chỉ có hai thứ để sống, đó là gạo nếp ngâm nở, hành củ thái lát, và… tất nhiên là lá dong bánh mật tươi. Còn đậu xanh, mẹ đem đồ như đồ xôi, rồi giã nhuyễn, nắm lại từng nắm tròn. Cha định gói 30 tấm bánh, thì mẹ trù liệu lượng đậu, đồ lên, giã nhuyễn rồi nắm lại thành 30 nắm. Thịt thái to bản, dày miếng, ướp mắm tiêu rồi xào lên. Định mỗi gói bánh hai miếng thịt, là mẹ thái đủ chừng đó. Tất nhiên, bao giờ cũng có vài ba miếng thịt đặc biệt, một nắm đậu xanh lẻ ra, là cha mẹ có ý để dành cho tấm bánh muội của tôi. Cha bảo, thịt xào thơm, đậu đồ thơm, thì bánh mới thơm ngon được.

Bao giờ mẹ cũng giao tôi việc rửa lá, lau khô, tước bỏ phần gân cho mềm lá và cuối cùng là ngồi cạnh cha, vừa xem cha gói bánh, vừa để cha sai bảo khi cần. Phần thưởng ban đầu cho việc rửa, lau khô lá là tôi được vét chõ đồ xôi đậu. Và cảm xúc ngọt ngào run rẩy suốt buổi chờ cha gói bánh, trong tôi, là đếm cho đủ số bánh cha định liệu, và chờ khi tấm bánh muội xinh xắn được hoàn tất. Cha mỏi nhừ lưng, lòng khòng đứng dậy, hút thuốc lào và uống trà. Còn tôi giúp mẹ xếp bánh vào nồi, sau đó cùng mẹ trông bếp, lắng nghe “mùi Tết chín” lựng dần trong lửa ấm chiều cuối năm.

Cha mất năm tôi 17 tuổi, một mùa đông, giáp Tết, những cơn ho quặn thắt ruột gan và bệnh phù thũng đã cướp đi cha của tôi. Tôi chỉ có 16 cái Tết được cùng cha gói bánh chưng, và được ăn 16 tấm bánh muội đặc biệt cha dành riêng cho tôi. 16 năm quá ít ỏi ấy, rưng lệ cả một đời người…

TRANG THANH