Miền đất của nhiều cái... nhất
Có lẽ, khi nhắc tới Bạc Liêu, hẳn không ít người sẽ nghĩ tới ngay biệt danh “công tử Bạc Liêu” với thú chơi “ngông” đốt tiền nấu trứng không ai theo kịp. Để thỏa chí, điểm đến đầu tiên tôi lựa chọn trong một ngày ít ỏi có dịp ghé qua Bạc Liêu là ngôi nhà và những giai thoại gắn liền với biệt danh “công tử Bạc Liêu” của đại điền chủ Trần Trinh Huy (tức Ba Huy).
Có đến thăm và được nghe những giai thoại, tôi mới có dịp hiểu hơn về chàng công tử trứ danh thuở nào. Ba Huy là con trai út của ông Hội đồng Trạch vốn là một đại điền chủ giàu có bậc nhất của xứ Nam Kỳ, nắm trong tay phần lớn ruộng đất và kinh doanh muối. Chuyện rằng, lớn lên trên “đống vàng”, lại được “học tập” kiểu cách ăn chơi ở chốn Pa-ri tráng lệ, Ba Huy đã “biểu diễn” những màn ăn chơi làm tất cả dân chơi Nam Kỳ thời ấy đều bái phục. Đi thăm các sở điền, Ba Huy mặc veston, đi xe hơi. Ông sắm cả ca-nô để lướt sóng trên các sông rạch miền Tây vốn chỉ toàn xuồng chèo tay.
Biểu tượng cây đờn kìm cách điệu lớn nhất cả nước tại Bạc Liêu.
Khi đi thăm ruộng, Ba Huy dùng chiếc Ford Vedette, còn đi chơi ông có chiếc Peugeot thể thao, loại xe lúc đó cả miền Nam chỉ có hai chiếc, chiếc kia là của Vua Bảo Đại. Vào thập niên 1930-1940, hễ Vua Bảo Đại có thứ gì thì Ba Huy phải sắm cho bằng được thứ ấy, kể cả máy bay. Ba Huy đã làm chấn động dư luận cả nước lúc đó khi đi thăm ruộng bằng máy bay. Lúc ấy, cả Việt Nam mới chỉ có hai chiếc máy bay dân sự, một của Vua Bảo Đại, chiếc kia là của Ba Huy.
Rạch Giá, Ba Huy hứng chí bay ra biển Hà Tiên “hóng mát”, để rồi lạc sang tận nước Xiêm, phải đáp khẩn cấp vì máy bay... hết xăng. Trần Trinh Huy bị nhà nước Xiêm tạm giữ và phạt về tội xâm nhập lãnh thổ trái phép với số tiền tương đương 200 ngàn giạ lúa.
Ngôi nhà của con người đã làm nức tiếng lục tỉnh Nam Kỳ xưa về độ chịu chơi và sự phóng khoáng nay đã trở thành Khách sạn Công tử Bạc Liêu tọa lạc tại số 13 Điện Biên Phủ, phường 3, TP Bạc Liêu. Được biết, nhà công tử Bạc Liêu được xây dựng vào năm 1919, phần lớn các vật liệu đều được nhập từ Pháp. Ngày nay, du khách ghé thăm sẽ có dịp thưởng lãm từ tầng trệt ngôi nhà cho đến đại sảnh và những dãy lầu dẫn lên các tầng phía trên. Trên lầu có 3 phòng ngủ và 2 đại sảnh, tất cả đều toát lên vẻ bề thế sang trọng của một gia đình quyền quý. Vốn là người có tính hào hoa, phóng khoáng, mọi chi tiết, đồ đạc trong ngôi nhà dường như cũng lột tả được con người công tử Bạc Liêu, thông qua những đường nét tỉ mỉ, mềm mại khắc trên tường, cột, cửa… Thú vị nhất là chiếc điện thoại từ thời Pháp thuộc đang đặt trong phòng công tử Bạc Liêu đến nay vẫn sử dụng được.
Nằm cách ngôi nhà của “tay chơi số một Nam Kỳ xưa” hiện còn có một “báu vật” trở thành niềm tự hào của người Bạc Liêu khi đang sở hữu chiếc đồng hồ đá Thái Dương độc đáo nhất Việt Nam. Theo khảo sát, hiện trên thế giới chỉ có hai chiếc thuộc dạng này. Đồng hồ đá Thái Dương, hay còn gọi là “đồng hồ mặt trời”, đang tồn tại ở Bạc Liêu càng tự hào hơn khi do chính tay một nhà khoa học của Việt Nam sáng chế ra đầu thế kỷ 20. Chiếc đồng hồ này được xây dựng năm 1913, trải qua tháng năm cùng với nắng gió miền Tây nhưng chiếc đồng hồ đá Thái Dương vẫn chạy tốt. Chiếc đồng hồ độc đáo này do nhà bác vật (cách gọi các kỹ sư của người miền Nam xưa) Lưu Văn Lang, một kỹ sư thông thái lúc bấy giờ xây tặng và đặt trước cổng dinh Tham biện chính là ngôi nhà Tỉnh trưởng Bạc Liêu để đối đáp lại sự quý trọng người hiền tài của viên quan đứng đầu tỉnh khi đó.
Điểm đặc biệt của chiếc đồng hồ này là được xây dựng không dùng bất kỳ loại máy móc nào, không dùng bất kỳ một thứ kim loại nào, chỉ được làm bằng gạch và xi măng mà vẫn có thể nhìn vào đó để biết giờ. Chiếc đồng hồ đá cao 1m, rộng 0,8m, mặt được quay về hướng Đông và được chia làm 3 phần. Phần ở giữa là khối hình chữ nhật nhô ra phía trước, hai khối hình vuông cân đối hai bên kẻ 12 chữ số La Mã phân định đều nhau. Khi có ánh mặt mặt trời chiếu trực tiếp vào các con số, phần khối hình chữ nhật sẽ chia đồng hồ thành hai phần sáng-tối. Lằn ranh giới giữa hai phần sáng-tối ấy chính là “chiếc kim” của đồng hồ thể hiện khi đó là mấy giờ. Sáng sớm, mặt trời vừa mọc thì "chiếc kim" rọi ngay số 7. Mặt trời dần cao đến độ nào thì "chiếc kim" rọi dần lên các con số chỉ giờ cao hơn, cho đến khi đứng bóng thì chỉ đúng số 12. Trời trở về chiều, bóng lại nghiêng theo đúng thứ tự thời khắc. Đến khi "chiếc kim" hạ dần tới bậc tam cấp thấp nhất thì mặt trời đã lặn.
Chính nhờ chiếc đồng hồ độc đáo này mà theo ghi chép tại Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu, phần "Lý lịch di tích đồng hồ đá" rằng: "Hồi đó, không chỉ những ông Thông, ông Phán, ông Huyện (các chức danh trong bộ máy nhà nước thời thuộc Pháp) ghé vào xem giờ trước khi vào trình giấy cho tỉnh trưởng. Cả các quan Tây cũng thường xuyên ghé xem đồng hồ Thái Dương để... chỉnh giờ đồng hồ đeo tay của mình theo cho chuẩn". Hiện nay, do sai lệch của chu kỳ vòng quay Trái Đất và ảnh hưởng của các nhà cao tầng, cây cối xung quanh nên sai số của chiếc đồng hồ đặc biệt này dao động khoảng 2 phút so với đồng hồ điện tử.
Đặc biệt, tới thăm Bạc Liêu, du khách còn được thăm 2 công trình văn hóa, nghệ thuật đạt kỷ lục Việt Nam. Đó là cây đờn kìm cách điệu lớn nhất và Nhà hát Cao Văn Lầu cùng Trung tâm triển lãm văn hóa nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu.
Cây đờn kìm cách điệu có tổng chiều cao 18,6m, được dựng trên 5 cánh sen trong hồ nước hình ngôi sao 5 cánh. Nhà hát Cao Văn Lầu và Trung tâm triển lãm văn hóa nghệ thuật tỉnh Bạc Liêu được thiết kế theo hình dáng 3 chiếc nón lá lớn nhất Việt Nam, đặt hướng mái vào nhau với tổng diện tích 2.262m2. Trong đó, chiều cao nhất của nón là 24,25m; đường kính 45,15m. Đây được xem là biểu tượng văn hóa tỉnh Bạc Liêu.
Sâu lắng bản Dạ cổ hoài lang
“Nghe tiếng đàn ai rao sáu câu, như sống lại hồn Cao Văn Lầu”-những ca từ trong bài hát “Bạc Liêu hoài cổ” như chứa đựng cái chất trữ tình trong những câu vọng cổ làm ngất ngây lòng người. Có đến Bạc Liêu hay miền quê nào của Đồng bằng sông Cửu Long mới thấy những câu vọng cổ, những điệu đờn ca tài tử đã là một nét văn hóa không thể thiếu của con người nơi đây.
Nhạc sĩ Cao Văn Lầu, thường gọi là Sáu Lầu, sinh ngày 4 tháng 11 năm Canh Dần (22-12-1890) tại xã Thuận Mỹ, huyện Vàm Cỏ, tỉnh Long An. Ông cùng gia đình đến phường 2, TP Bạc Liêu khi lên 4 tuổi. Được biết, bản “Dạ cổ hoài lang” được Cao Văn Lầu sáng tác từ tiêu đề “Chinh phụ vọng chinh phu” trích trong Nam ai “Tô Huệ chức cẩm hồi văn” do người thầy của ông là Nhạc sư Nhạc Khị đặt ra. Phần khác, lúc bấy giờ, trong gia đình Cao Văn Lầu đang xảy ra chuyện không may, ông phải chia tay với vợ vì cái tội "Tam niên vô tử bất thành thê", nên việc sáng tác bản “Dạ cổ hoài lang” bị gián đoạn khá lâu, đến năm 1918 mới viết xong và sang năm 1919 mới chỉnh lý hoàn tất. Cũng trong năm này, bản “Dạ cổ hoài lang” được ông Trần Xuân Thơ giới thiệu để làm bài ca mở màn cho đoàn hát cổ Tân Minh Kế ở Bạc Liêu.
Bản “Dạ cổ hoài lang” được Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sáng tác gồm 20 câu, mỗi câu 2 nhịp. Ngay sau khi ra đời, nó đã nhanh chóng trở thành một trong những bản ca chủ chốt trong phong trào đờn ca tài tử và khi nó chuyển thành vọng cổ thì trở thành bài ca "vua" trong sân khấu cải lương. Trải qua gần một thế kỷ, bản “Dạ cổ hoài lang” đã không ngừng biến đổi từ nhịp 2 lên nhịp 4, 8, 16, 32. Chính các nghệ nhân, nghệ sĩ người Bạc Liêu đã cải tiến và làm cho bản vọng cổ ngày càng được thăng hoa như hôm nay.
Khi nhắc về cái hay, cái thi vị của “Dạ cổ hoài lang”, cố Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Khê đã nhận xét: "... Trong cổ nhạc Việt Nam, chưa có bài bản nào được như bản “Dạ cổ hoài lang” biến thành vọng cổ, từ một sáng tác cá nhân đã biến thành một sáng tác tập thể. Sinh ra từ đầu thế kỷ, lớn lên sống mạnh, biến hóa thiên hình, vạn trạng, mà sẽ còn sống mãi trong lòng người Việt khắp năm châu".
Bài và ảnh: NGUYỄN SĨ CƯỜNG