Mặt trời xuống nhanh. Hết đường nhựa, vào đường đất ngoằn ngoèo bám trên triền dốc là thấy ngay cái lạnh ùa tới. Gió dưới vực sâu hun hút thốc lên. Đúng là phải đi nhanh, cho nóng người lên, cũng để không bị muộn quá lại không nhìn thấy lối đi. Đàn ông từ chợ về, uống rượu say ngủ ngay giữa đường. Một quãng lại có một ông mũ nồi văng ra bên cạnh, há miệng ngáy hừ hừ, ngựa ngang qua quệt cả đuôi vào mặt.
Từ đây không nhìn thấy bản tôi. Phải đi mười một khúc đường vòng như trước mặt mới về tới. Vừa đi vừa đếm ngược, đến vòng cua cuối cùng mới thấy được nhà trưởng bản nằm chon von trên cao lẫn trong sương mờ mờ xam xám. Mặt trời tắt là sương xuống, nhanh như chạy ra từ ống thổi. Sương che kín hết những đỉnh núi cao, nhìn không thấy từng mỏm tai mèo nhọn hoắt…
Khắp vùng cực Bắc này, nhìn phía nào cũng chỉ thấy núi. Núi đá cao ngang mây trời, nhiều như sao trên dòng ngân hà, ngửa mặt đếm mỏi miệng, mỏi cổ không xuể. Người già trong bản nói, đàn ông sinh ra từ núi, còn đàn bà sinh ra từ suối. Suối ít hơn núi nên đàn bà ít hơn đàn ông.
Vẻn vẹn chỉ hai trăm hai mươi chữ, làm sao giới thiệu cho ra miền núi với những đặc trưng đặc sắc thiên nhiên. Dĩ nhiên chưa thể quá kỹ nhưng cũng không được phép sơ sài, đặc biệt là nhạt không gây được ấn tượng vùng núi cao cực bắc Hà Giang. Chúng ta hãy xem nhà văn Đỗ Bích Thúy giải quyết "đề bài" trên như thế nào.
Trước hết là đặc điểm đường núi cheo leo vất vả, không hề gần. "Hết đường nhựa, vào đường đất ngoằn ngoèo bám trên triền dốc là thấy ngay cái lạnh ùa tới. Gió dưới vực sâu hun hút thốc lên". Chọn thời điểm "mặt trời xuống nhanh" ngày mùa đông, để càng làm nổi lên sự vất vả đi đường, nói đúng hơn là vượt đường xa. "Đúng là phải đi nhanh, cho người nóng lên, cũng để không bị muộn quá lại không nhìn thấy lối đi". Tác giả không bỏ sót một chi tiết thú vị hết sức "miền núi" quá xa cách "nề nếp" đồng bằng: "Đàn ông từ chợ về, uống rượu say ngủ ngay giữa đường. Một quãng lại có một ông-mũ nồi văng ra bên cạnh, há miệng ngáy hừ hừ, ngựa ngang qua quệt cả đuôi vào mặt". Chi tiết tuy thú vị nhưng lại càng tăng thêm sự "sờ sợ" của đường núi còn quá dài, quá hoang vắng với một cô giáo người Kinh lên dạy học.
"Từ đây không nhìn thấy bản tôi. Phải đi mười một khúc đường vòng như trước mặt mới về tới. Vừa đi vừa đếm ngược, đến vòng cua cuối cùng mới thấy được nhà trưởng bản nằm chon von trên cao lẫn trong sương mờ mờ xam xám". Với số lượng chữ hạn hẹp tác giả vẫn căng hết ăngten thần kinh, bên cạnh thị giác, không quên nhấn vào xúc giác, mục đích càng làm nổi lên cái vất vả của đường núi. "Mặt trời tắt là buông xuống nhanh như chạy từ ống thổi". Cảm giác lạnh của gió núi hun hút thốc ở đoạn trên tới đây càng được tô đậm với tốc độ sương xuống.
Làm rõ lên cảnh sắc miền núi, dĩ nhiên không thể bỏ qua núi. Đỗ Bích Thúy đã khéo léo từ tả đường chuyển sang tả núi. Cô giáo tới bản, vượt đường xa hút, vừa kịp tối vào lúc sương xuống rất nhanh "sương che kín hết những đỉnh núi cao, nhìn không thấy từng mỏm tai mèo nhọn hoắt".
Chúng ta thưởng thức lối viết nhanh, làm mới lại những cảm giác cũ về núi đã không ít nhà văn miêu tả. Đỗ Bích Thúy, với sự "thông thổ" từ bé vốn miền núi, đã diễn đạt hấp dẫn những cảm giác vẫn cứ mới lạ:
"… Núi đá cao ngang mây trời, nhiều như sao trên dòng Ngân Hà, ngửa mặt đếm mỏi miệng mỏi cổ không xuể. Người già trong bản nói, đàn ông sinh ra từ núi, còn đàn bà sinh ra từ suối. Suối ít hơn núi nên đàn bà ít hơn đàn ông".
Viết khá nhiều truyện ngắn đề tài gắn với toàn miền núi, đặc biệt Hà Giang, Đỗ Bích Thúy vẫn không lặp lại, hơn thế còn không ngừng phát hiện những nét lạ khác. Chỉ riêng với thiên nhiên vùng núi, chị đã đóng góp thêm những trang, những đoạn từ hay đến rất hay. Trích đoạn truyện ngắn "Cạnh bếp có cán môi gỗ" mà chúng ta cùng thưởng thức trên đây là một chứng minh khá thuyết phục.
LINH VÂN