Năm lên mười, bố tôi đột ngột qua đời sau cơn xuất huyết dạ dày. Hồi đó, căn bệnh này cơ sở y tế cấp huyện chưa xử lý được, hơn nữa, thời chiến tranh, phương tiện, vật tư y tế rất thiếu thốn. Mẹ tôi lặng lẽ, cặm cụi lo việc đồng áng, vườn tược nuôi chị em chúng tôi nên người. Kinh tế khó khăn, việc học hành tốn kém, vậy mà mấy chị em tôi đều được mẹ nuôi ăn học chu đáo. Nhờ vậy sau này chị thứ hai được vào học hệ trung cấp, tôi và em út có bằng đại học. Rồi hai chị tôi thoát ly, đầu năm 1975, tôi vào bộ đội. Hôm tiễn tôi lên đường, mẹ không khóc, chỉ đứng tựa vào cửa nhìn theo bước chân con trai. Tôi hiểu trong lòng mẹ lo nghĩ gì. Tuy không còn cảnh "ùng oàng" của máy bay Mỹ, nhưng nước nhà chưa hòa bình, thống nhất, ai bảo đi bộ đội lúc ấy sẽ không mất mát, hy sinh? Ở nhà còn cô em út với mẹ. Em tôi khá xinh nên nhiều người muốn làm mối, không ít chàng trai đến "trồng cây si", nhưng em dứt khoát đi thoát ly. Mẹ tôi đồng ý, bà ở nhà một mình trong ba gian nhà tranh vách đất...

Đất nước đổi mới, mở cửa. Mẹ tôi đêm nằm không còn phải lo chuyện thóc gạo phòng khi tháng ba ngày tám; bữa cơm không còn cảnh một lưng cơm, ba lưng sắn nữa. Chúng tôi chuyển lên Hà Nội. Cả đời ở quê, nên khi xa quê mẹ không nỡ. Nhưng vì con cháu nên mẹ tôi vui vẻ đi cùng. Khi mới lên Thủ đô, cuộc sống tuy còn khó khăn, thiếu thốn, nhưng chúng tôi luôn vui vì có mẹ, có con cái khỏe mạnh, chăm ngoan. Ở với con cháu gần 20 năm trên đất Thủ đô, mẹ tôi về với tổ tiên nhẹ nhàng, thanh thản khi tuổi đã cao. Tuy nhiên, với chúng tôi, đó là một mất mát lớn, bởi từ nay muốn chăm sóc mẹ cũng không còn cơ hội. Tôi nhớ lời một nhà văn người Nga: "Trên đời này có một người mà chúng ta không bao giờ trả hết ơn nghĩa, đó là mẹ". Câu nói ấy thật đúng với mẹ tôi!

HÀ HƯNG