Đất nước mình đi đâu cũng gặp bóng tre, bài tùy bút “Cây tre Việt Nam” của nhà văn Thép Mới đã hơn nửa thế kỷ, vẫn còn nguyên sức hùng hồn đến giờ: “Tre Đồng Nai, nứa Việt Bắc, tre ngút ngàn Điện Biên Phủ, lũy tre thân mật làng tôi, ở đâu ta cũng có tre nứa làm bạn. Tre, nứa, trúc, mai, vầu… mấy chục loại khác nhau, nhưng cùng một mầm non măng mọc thẳng…”.
Làng tôi ven sông Đà, ngược lên gặp núi, trong bạt ngàn cây lá từ xóm phù sa đến miền cao, tre nứa mọc thành khóm quanh nhà, ở vườn, thành rừng ở núi, nơi đó âm thầm tiếng cựa mình của măng. Đã nghe tiếng rao măng khô khắp các ngõ, đã thấy các mẹ các chị tay chọn từng miếng măng đầu nhẩm tính bát canh, đĩa xào, đĩa nộm… trong mâm cơm đón Tết vui Xuân.
Gỡ từng sợi tóc vướng vào răng lược, tay di di xung quanh vơ gọn những sợi tóc rụng, bà vo lại thành từng nhúm nhỏ giắt vào phên cửa. Cái thứ tóc rối này giải cảm tốt lắm, lũ trẻ hễ nghe tiếng rao kẹo mạch nha là chạy về ngó lên phên cửa lấy tóc rối đem đổi. Vo nhúm tóc trong lòng bàn tay ước lượng, bà bâng quơ: “Tóc rụng nhiều thế này là đến mùa măng mọc đây”. Nói chưa dứt bà hướng mắt nhìn về màu xanh khóm tre bên bờ ao cuối vườn. Nhà có mấy khóm tre là oách lắm vì “tre già, bà lim” lại được ngâm trong bùn ao thách đố được mối mọt thì có cơ dựng nhà, dựng cửa. Từng cây tre được đánh số trong trí nhớ, từng mầm non được hy vọng… Ngày ấy vùng xuôi chưa có nhiều măng của miền ngược mang xuống, những bữa măng đều do chính cây tre ở vườn cung cấp. Mà chỉ có nhánh măng nào khó có thể phát triển thành cây tre mới để dành cho bữa ăn thường ngày. Nhưng mâm cỗ Tết thì không thể thiếu bát canh măng.
Nghe bà nhắc khéo, ông vội ra khóm tre kiểm tra, chiếc cối đá góc sân cũng được vần vào. Ngọn măng to nhất vừa rẽ mình lên khỏi mặt đất sẽ được đội chiếc cối đá ấy. Làm vậy để măng tránh gió to, nắng lớn, măng sẽ không bị khô cứng hay chát đắng vì mất nước. Một thời gian sau từ một búp măng tre đã trở thành một củ măng to, ông đào vào, bà thái miếng, luộc chín rồi phơi khô. Vừa nắng ngày vừa gió đêm đến khi măng se lại mười phần chỉ còn hai, ba. Ông giúp bà chặt chiếc mo cau gói chặt chỗ măng khô lại để hong trên gác bếp. Nhìn chiếc mo cau căng chặt mường tượng đến những bát canh nghi ngút khói ngày xuân.
Từ nửa tháng trước Tết, bà lẹ làng hạ chiếc mo cau xuống để ngâm với nước vo gạo và dặn mẹ phải thay nước hằng ngày cho măng tươi màu cánh gián. Đến chiều hai chín rạng sáng ba mươi bên cạnh nồi bánh chưng là nồi măng. Phải qua bao nhiêu lần nước ngâm, bao nhiêu lần nước luộc măng mới ngậm đủ nước để vuông mịn trong từng miếng cắt cho mẹ chuẩn bị cỗ. Mẹ chặt chiếc chân giò trong phần lợn đụng với những người hàng xóm thành từng miếng to. Những miếng vừa xương vừa nạc, lắm mỡ, nhiều gân này cũng phải công phu chế biến trước khi sánh đôi cùng măng. Ôi, cái loa miệng rộng, ba bốn miếng móng giò ninh nhừ như rồng chầu hổ phục đặt trên những miếng măng lưỡi lợn nục nạc, điểm chút miến dong, mấy củ hành chần qua nước canh béo ngậy mỡ, nghi ngút bốc hơi đã truyền đời cho mâm cỗ ngày Tết.
CHU HỒNG TIẾN