Năm 1019, sau 9 năm  ngày Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, ở phường Thái Hòa (phía núi Cung, mé trên vườn Bách Thảo, Hà Nội ngày nay), một chú bé chào đời và sau này đã làm nên sự nghiệp lớn, cứu nước, yên dân. Đến thế kỷ XVIII, nhà sử học Lê Quý Đôn đã viết rằng chính sử Tống phải thừa nhận binh pháp “đánh đâu thắng đấy” của ông đã được Sái Diên Khánh nhà Tống mô phỏng và được Tống Thần Tông “cho là phải”. Đó chính là Lý Thường Kiệt, người anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, nhà chính trị và ngoại giao tài ba.

Hiện có hai thuyết, xuất nhập về chi tiết, nhưng đại để đều trực tiếp nói rõ: Lý Thường Kiệt gốc người Thăng Long. Cả hai thuyết đều chỉ ra rằng: Lý Thường Kiệt là người làng An (Yên) Xá (sau đổi là Cơ Xá) trên bãi sông Hồng, phía sau thành Thăng Long. Nhưng, thuyết thứ nhất (dựa vào sách “Tây Hồ chí”) cho rằng, trước khi trở thành người (và phúc thần) An (Yên) Xá, thì quê gốc Lý Thường Kiệt là làng Bình Sa.

Vào thời Lý Thái Tổ định đô, do việc mở mang kinh thành, làng Bình Sa phải di dời ra mạn bãi sông Hồng, nhường đất cho vua xây thành. Người Bình Sa, vì lẽ đó, trở thành người An (Yên) Xá, tức Cơ Xá. Còn thuyết thứ hai thì cũng nói đến việc Lý Thường Kiệt dời quê gốc ra bãi sông Hồng để thành người An (Yên)  Xá-Cơ Xá, nhưng lại (theo sự chỉ dẫn quan phương của các sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, “Lịch triều hiến chương loại chí”...) cho rằng chốn quê gốc ấy là phường Thái Hòa.

Lý Thường Kiệt vốn họ Ngô, tên là Tuấn, con của Sùng Tiết Tướng Ngô An Ngữ, mẹ họ Hàn. Sùng Tiết Tướng Ngô An Ngữ đi tuần vùng biên giới, thuộc Thanh Hóa bị bệnh rồi mất vào năm 1031. Lúc bấy giờ Ngô Tuấn mới có 13 tuổi, được người chồng của cô đem về nuôi ăn học ở phường Thái Hòa.

Đường phố mang tên người anh hùng Lý Thường Kiệt tại Hà Nội. Ảnh: HÀ TRẦN

Bình sinh Ngô Tuấn là người khôi ngô tuấn tú, thông minh, nhanh nhẹn. Thời đó, đất nước mới độc lập, nhiệm vụ bảo vệ nền độc lập còn nặng nề. Là con một võ tướng, Ngô Tuấn thích nghề võ và được dạy nghề võ. Hàng ngày, Ngô Tuấn thường luyện cung kiếm bày trận đồ, đêm chong đèn đọc binh pháp Tôn, Ngô. Theo Tây Hồ chí và Long thành dật sự, Lý Công Ẩn, một vị tôn thất nhà Lý có tài nhưng không ra làm quan, đến ở làng Bái Ân mở trường dạy học. Ngô Tuấn đã theo học Lý Công Ẩn từ năm lên 7 tuổi cho mãi đến năm 20 tuổi.

Năm 1036, mẹ Ngô Tuấn mất lúc ông 18 tuổi. Ngô Tuấn cùng em lo đủ mọi nghi lễ tống táng theo tập tục thời bấy giờ. Người đời khen ông là người chí hiếu.

Lúc mãn tang, Ngô Tuấn được bổ chức kỵ mã hiệu úy là một chức quan nhỏ trong quân đội. Năm 1041, lúc 23 tuổi Ngô Tuấn được bổ vào ngạch thị vệ để hầu vua, giữ chức “Hoàng môn chi hậu”. Khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi, Ngô Tuấn được rời khỏi những chức vụ trong nội cung và đưa ra giúp việc nhà vua tại triều đình. Vì yêu mến tài năng của Ngô Tuấn vua đã cho ông mang họ vua, từ đó Ngô Tuấn mang tên Lý Thường Kiệt.

Năm 1061, người Mường ở biên giới quấy rối. Lý Thánh Tông sai ông làm Kinh phỏng sứ vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An, được toàn quyền hành sự. Ông phủ dụ dân chúng, lấy được lòng người. Tất cả 5 châu 6 huyện, 3 nguồn, 24 động đều quy phục.

Tháng 2 năm 1069, ông theo vua Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành. Lý Thường Kiệt làm tiên phong đi đầu, truy bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Cuối cùng Chế Củ phải chịu hàng, dâng 3 châu để được tha về nước.

Năm 1077, 30 vạn quân Tống do Quách Quỳ chỉ huy tràn sang Việt Nam ta. Lý Thường Kiệt cho lập phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) để chặn giặc rồi cho thủy quân đánh bại giặc ở vùng biển Quảng Ninh. Quân bộ của Quách Quỳ đánh đến sông Như Nguyệt bị chặn đứng. Nhiều trận chiến đấu quyết liệt xảy ra. Giặc Tống không sao vượt được phòng tuyến Như Nguyệt, đành đóng trại chờ viện binh. Đang đêm, Lý Thường Kiệt cho người vào đền thờ Trương Hống, Trương Hát ở phía nam bờ sông Như Nguyệt, giả làm thần đọc vang bài thơ:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”

 

(Sông núi nước Nam vua Nam

Rành rành định phận tại sách trời

Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm

Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời).

Bài thơ bất hủ có giá trị như một bản Tuyên ngôn Độc lập khiến địch hoang mang. Tinh thần quân ta phấn chấn hẳn lên. Cuối cùng địch bị đánh hất về phía bên kia sông. Tướng giặc Quách Quỳ nao núng, ra lệnh “ai bàn đánh sẽ bị chém”. Chúng không dám mạo hiểm vượt sông.

Hơn một tháng trời cầm cự, quân địch bị kìm chân trước phòng tuyến sông Cầu, tiến thoái lưỡng nan. Thời cơ đến, ông tổ chức một trận quyết chiến, vượt sông đánh vào trại của giặc. Hơn một nửa số quân giặc bị tiêu diệt. Tiếp đó, ông cho người sang nghị hòa, mở đường thoát cho giặc: Quách Quỳ đồng ý và vội vã rút quân về. Địch lui tới đâu, quân ta tiến tới đó, thu hồi toàn bộ đất đai tạm bị chiếm.

 Kháng chiến chống quân xâm lược Tống đại thắng lợi. Độc lập, chủ quyền, lãnh thổ quốc gia được bảo toàn. Ý chí xâm lược của địch hoàn toàn bị đè bẹp.

Lịch sử mãi ghi nhớ công ơn người anh hùng dân tộc, nhà quân sự kiệt xuất, nhà chính trị và ngoại giao tài ba Lý Thường Kiệt, người lãnh đạo quân dân Đại Việt thời Lý, phá Tống bình Chiêm thắng lợi. Với công lao hiển hách của mình, Lý Thường Kiệt từng được cả triều đình nhà Lý quý trọng. Ngay lúc ông còn sống, Lý Nhân Tông đã cho làm bài hát để tán dương công trạng. Ông được lịch sử ghi nhận là anh hùng kiệt xuất, một con người hiến dâng cả tâm hồn sức lực cho sự nghiệp độc lập của Tổ quốc ở buổi đầu thời tự chủ. Tài năng quân sự kiệt xuất của ông làm kẻ thù khiếp phục.

Năm 1105, người anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt qua đời, thọ 86 tuổi. Nhớ ơn anh hùng dân tộc vĩ đại, cả trấn Thanh và cả kinh thành Thăng Long đều lập đền thờ tưởng nhớ ông.

NGUYỄN QUANG NGỌC