Cảnh trong lễ hội Ramưwan. Ảnh: Đ.D

Lễ Ramưwan (hay Blơng Muk Kei) của người Chăm Bàni thường được gọi là Hồi giáo cũ, khởi lễ từ ngày 28 tháng 8, một tháng trước lễ hội Katê, được xem là Tết chung của cộng đồng Chăm. Từ xưa đến nay, người Chăm vẫn cứ xem tất cả đều là Tết của mình, không chút phân biệt. Đây là một nét rất đặc trưng trong sinh hoạt xã hội Chăm.

Để chuẩn bị cho Ramưwan, người Chăm Bàni làm lễ tảo mộ trước ngày chính thức từ hai đến năm ngày, tùy nghĩa trang xa hay gần. Các Ghur (nghĩa trang) Chăm ngày xưa nằm cách làng cũ khoảng non cây số. Đa số các làng ấy nay đã mất vết, nhưng Ghur vẫn còn. Có nhiều nghĩa trang nằm xích về phía biển hơn, nhưng khi dân cư tập trung đông đúc, người Chăm khuynh hướng dời Ghur lên chỗ đất cao để giữ sự thiêng liêng cần thiết với một chốn như thế này.

Nghĩa trang Bàni chỉ là mặt đất phẳng với ba hòn đá trơn cho mỗi mộ phần. Chúng nằm san sát nhau và chiếm một khoảng không gian rất hẹp. Khu mộ dòng họ này chỉ cách dòng họ kia từ năm đến mười bước. Nên một sào đất có thể chứa được cả ngàn mộ phần. Hãy dành đất cho người sống! Có phải thế chăng mà tổ tiên Chăm đã có sự tiết kiệm như vậy?

Đã qua một tháng khô hạn nên không có một bụi cỏ nào mọc để phải giẫy. Người ta chỉ dọn đi mấy lớp lá rừng khô và phả lại mặt cắt cho bằng. Lễ bái cũng được thực hiện khá nhanh-chưa đầy 15 phút cho một cuộc lễ. Cấp Acar (giáo sĩ Bàni) đọc kinh và con cháu quỳ lạy, cầu khấn. Thành kính và lặng lẽ. Nhóm này đứng lên rồi nhóm kia tiếp tục. Cứ thế, hơn 50 chi họ ở bảy làng Chăm Bàni Ninh Thuận qua làm lễ. Có làng ở xa 30 đến 40 cây số. Họ đi bằng các phương tiện hiện đại. Không có năm nào, không có một dòng họ nào bỏ quên ngày trọng đại này.

Sau 3 ngày lễ chính, cấp Acar vô thánh đường chay tịnh.

Được biết Bà La Môn giáo, một tôn giáo rất cổ nhập địa vào Chăm sớm hơn Hồi giáo. Tôn giáo ấy tưởng khép kín, không ngờ nó có tinh thần mở rất lạ. Văn hóa dân tộc Chăm cũng thế. Hãy tưởng tượng dân tộc cư trú dọc miền duyên hải Trung Bộ nhìn mở ra biển Đông, suốt mười mấy thế kỷ.

Tinh thần mở này thể hiện ngay trong chuyện thờ cúng. Trước tiên ngay thế kỷ thứ II, Chăm xem Po Inư Nưgar-Bà Thiên-Y-Ana là người tạo lập xứ sở. Vị trí thờ phụng luôn được đặt ở hàng đầu. Sau đó, thế kỷ XIV, khi Hồi giáo nhập địa Chăm-pa, vị trí này được nhường lại cho Allah. Chăm coi Ngài là đấng sáng tạo vũ trụ, trong khi Po Nưgar chỉ được xem như người tạo lập xứ sở.

Trong các cuộc lễ, tôn giáo Bà La Môn Chăm mở ngõ cúng bái gần như tất cả vị thánh có trong kinh Kura-ư (Koran). Rồi khi có xung đột giữa tôn giáo Hồi và Bà La Môn trong lịch sử, Chăm đã biết sáng tạo ra một giáo phái mới: Mưdwơn, phục vụ cho cả hai tôn giáo: Chăm Bà La Môn và cả Chăm Bàni.

Trong lễ lớn của Chăm Bàni, hình ảnh mở đẹp nhất của tôn giáo-tín ngưỡng Chăm có lẽ là từng đoàn cô gái Chăm đội Chiet (giỏ đan lát) bánh trái cúng dường nhà chùa Hồi giáo (Sang Mưgik) rất thành kính và trân trọng. Các dịp lễ gia tộc khác cũng thế, Chăm Bà La Môn luôn mời các vị Thầy Chan về tận nhà hành lễ.

Đây không chỉ là cử chỉ thân thiện như một “phép lịch sự” của hai tôn giáo chính của dân tộc mà còn là một nét văn hóa đáng trang trọng. Bởi vậy có những lễ cúng mà tín đồ Bà La Môn phải mời Thầy Chan về chủ tế. Cũng không ít lễ hội lớn, cả cấp Acar và cấp Paxeh cùng phối hợp hành lễ.

Người Chăm nghĩ đó không chỉ là cử chỉ tạo sự hòa hợp tôn giáo mà nó còn mang một ý nghĩa tượng trưng cao cả. Đó là sự hòa hợp âm dương (Bàni=đàn bà=âm, Bà La Môn=đàn ông=dương) qua một khía cạnh khác của cuộc sống trong sự giao hòa chung của vũ trụ.

Lạ! Lạ mà đẹp.

Với người Kinh-xen cư hay cộng cư trong khu vực có cộng đồng Chăm sinh sống cũng thế. Tết Nguyên đán gần như được người Chăm coi như Tết của mình, dù lâu nay người dân quê Chăm chưa xem nó như là Tết chung cả dân tộc Việt Nam. Đây chỉ là hành xử rất ư tự phát, một tự phát có nguồn gốc từ ý thức (hay vô thức cộng đồng) rất mở của văn hóa Chăm suốt quá trình lịch sử, tồn tại mãi đến hôm nay.

Người Chăm đội giạ nếp, cặp gà qua ăn Tết người Kinh cùng hay khác làng có quan hệ quen biết hoặc làm ăn buôn bán. Ăn Tết đã đời rồi còn có quà bánh mang về nữa. Hòa đồng và vui vẻ. Như là Tết của chính mình vậy. Nhất là sắp trẻ, cũng rất háo hức đón Tết. Mừng dựng nêu, đốt pháo-xưa; hoặc đạp xe xuống phố, qua khu vui chơi giải trí-nay. Tết như có thêm ngày hội. Còn với người lớn, mùa Tết nhằm ngày vụ vừa xong nên người ta cũng không tiếc nhau lời chúc, quà tặng.

Chúng tôi nói đùa nhau Chăm hân hạnh đón đến 4 cái Tết mỗi năm là vậy: Katê (nhằm tháng 7 lịch Chăm) chung cho cộng đồng Chăm, không phân biệt tín ngưỡng-tôn giáo-Ramưwan, Tết của Chăm Hồi giáo vào tháng 9 Hồi lịch-Tết Tây và sau cùng là Tết Nguyên đán.

Tinh thần mở ấy có lẽ được người Chăm thể hiện rất đẹp qua ứng xử hằng ngày, lộ bày rõ nhất trong các dịp lễ, tết của đồng bào khác tộc, khác tôn giáo-tín ngưỡng.

Nó chính là một nét đẹp văn hóa truyền thống đáng trân trọng.

Inrasara