Người đời đã rất có lý khi đúc kết một câu mà hầu như chúng ta ai cũng biết: Vinh quang nào cũng có nước mắt, hạnh phúc nào cũng phải ít nhiều trải qua đắng cay. Điều đó thật đúng khi ứng vào cuộc đời và hoạt động cách mạng của chiến sĩ tình báo và biệt động của Quân đội ta trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Phía sau hào quang của những chiến sĩ tình báo và biệt động đã được lịch sử ghi nhận và xã hội tôn vinh, là sự hy sinh thầm lặng, cao cả của những người thân của họ. Với 12 câu chuyện trong tập truyện ký Người chửa hoang hạnh phúc, thêm một lần nữa, Nhà văn-Nhà báo Đại tá Nguyễn Trần Thiết đã cho bạn đọc hiểu sâu sắc hơn về vấn đề này.

Mỗi câu chuyện đều gắn liền với một số phận, một cuộc đời, một tổ ấm của người chiến sĩ tình báo, biệt động và người thân của họ. Tập truyện không khai thác nhiều vào những cuộc “đấu trí, đọ tài” của các chiến sĩ tình báo khi sống trong lòng địch, mà chú trọng đi sâu vào đời sống riêng tư và tình yêu, gia đình của họ. Phải ràng buộc bởi bao mối quan hệ chằng chịt, phức tạp trong cuộc sống, song nhờ lý trí sáng suốt và nhạy cảm, các chiến sĩ tình báo cố gắng giải quyết mối quan hệ chung-riêng thấu lý, đạt tình. Vợ nhà tình báo Đặng Trần Đức đã phải chịu rất nhiều điều tai tiếng từ dư luận và miệng thế gian vì có “ông chồng phản bội Tổ quốc” nhưng vẫn âm thầm cay đắng chịu đựng suốt 21 năm trời đằng đẵng khiến chị Phạm Thị Thanh đã có lúc “ức muốn khóc, muốn gào thật to cho hả nỗi oan, nhưng chị lại tặc lưỡi. Chị sẵn sàng chịu đựng tất cả để anh có thành công” (Vợ tên gián điệp, trang 37). Chị Trần Thị Út thấy chồng là chiến sĩ biệt động Trần Phú Cương (Năm Mộc) chiến đấu hy sinh, bị quân giặc lôi kéo thi thể lên xe mà không dám cất tiếng khóc vì sợ bị lộ bí mật. Những ngày hoạt động phải xa con trong thời gian dài, khi gặp lại con, chị vô cùng thèm khát được ôm con vào lòng để cưng nựng, nhưng cháu bé không dám gần mẹ, không gọi tiếng “mẹ”. “Có nỗi đau nào hơn thế” như chị Út từng thốt lên? Cũng vì nhiệm vụ đặc biệt, không ít chiến sĩ tình báo đã có vợ con ở hậu phương, nhưng vẫn phải “giả vờ” làm chồng người phụ nữ khác, thậm chí phải kết hôn với người mình không yêu, nhưng rồi cuộc sống chiến đấu đã xích họ lại gần nhau trở thành vợ chồng và sinh con đẻ cái. Đến ngày chiến thắng, khi sự thật đã “hai năm rõ mười” thì chỉ có lòng đồng cảm, chia sẻ và bao dung của người phụ nữ mới mang lại hạnh phúc và niềm tin cho họ. “Ở nước ta không chỉ duy nhất trường hợp chị Hoàng, Tư Công, Mười Vị, mà có cả ngàn cán bộ tập kết ra Bắc lấy vợ mới mà chúng ta buộc phải cho “song song tồn tại”, có nghĩa là cho Tư Công có hai vợ hợp pháp (Chuyện tình tay ba khó xử, trang 245). Chị Hai Em, vợ của Anh hùng Nguyễn Văn Thương, vẫn chấp nhận mang tiếng “chửa hoang” và đã bao lần bị “hoảng chưa” bởi miệng lưỡi cay nghiệt của thế gian, song vẫn lặng lẽ “gói nỗi buồn riêng” vào tận tâm can để giúp sức cho chồng yên tâm công tác và giữ vững khí tiết người cộng sản (Người “chửa hoang” hạnh phúc). Nhờ sự thông minh, quả cảm mà chiến sĩ tình báo Nguyễn Thanh Bình-Thiếu tướng Hai Lâm đã làm cho quận chúa Cẩm Nhung xinh đẹp, đài các, giàu sang thuộc dòng dõi con nhà hoàng thân quốc thích cũng dần theo ý mình rồi tự nguyện chung sống, đùm bọc, giúp đỡ anh những ngày gian khó, nguy hiểm (Quận chúa là vợ hai?)... Ở độ tuổi 80 như nhà văn, nhà báo Nguyễn Trần Thiết mà vẫn viết được tập truyện ký Người “chửa hoang” hạnh phúc (450 trang)-đầu sách thứ 88 của ông, quả là một điều rất đáng khâm phục. Đúng như nhà văn tâm sự: “Khi viết lại những mối tình của đồng đội, tôi không sao cầm nổi nước mắt vì buồn đau, sung sướng, hãnh diện... Trí tưởng tượng của tôi không sao bịa nổi những tình huống như đã xảy ra”. NGUYỄN VĂN HẢI