LTS - Cụ Nguyễn Tài là Việt kiều sống tại U Đon, Thái Lan. Năm 1928, cụ được tổ chức người Việt yêu nước tại U Đon cử ra phụ giúp Bác Hồ khi Người hoạt động tại đây bởi cụ là người hiểu biết, giỏi chữ Hán. Những kỷ niệm với Bác trong thời gian này, khi về nước, ở tại phố Hòa Mã, Hà Nội, cụ Nguyễn Tài đã có dịp kể lại với nhà viết chèo Hà Văn Cầu trong khi ông đi tìm hiểu để viết vở “Người công dân số 1” vào năm 1976-1977. Kỷ niệm 117 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, giáo sư, kịch tác gia Hà Văn Cầu viết lại những kỷ niệm đáng nhớ của cụ Nguyễn Tài với Bác.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Năm 1923, Bác lại về U Đon (trước đó một năm, Bác đã về U Đon, xem các hồi ký của các cụ Đặng Văn Cáp, T.L.). Lúc ấy, cụ hội trưởng Hội Thân Ái là cụ Đặng Thúc Hứa (chú nhà văn Đặng Thai Mai, tục gọi là cụ Tú Đi) đang làm việc cho Hội ở một địa phương xa, nên Hội giao cho tôi lo việc ăn ở cho Bác, vì lẽ tôi là người có học chữ Hán, nên cũng biết ít nhiều sách vở Thánh hiền, đủ để trao đổi ý tứ với Bác.

Hôm đầu tiên, tôi đưa Bác đi ăn cơm. Lúc ấy, Bác không đội mũ mà đội nón, quần áo phần nhiều nhuộm đen, có lúc khuy cúc đều tết như áo Tàu. Quần đều ngắn, chỉ dưới đầu gối một tí. Bác đi chân không, đôi lúc đi giày ba-ta không tất.

Tôi đưa Bác đến ăn cơm tại nhà anh Nuôi. Anh là người Huế, vợ người Quảng Bình. Nhà làm theo kiểu Việt Nam, một gian hai chái, hai bên có đôi câu đối bằng chữ Hán:

Tại tức sinh huy, thiên hữu sơn xuyên, tăng mộng Tống

Thử duy dữ trạch, địa vô Mân Cảo, diệc hưng Chu.

Bác dừng chân, đọc đi, đọc lại, rồi bảo tôi:

- Câu đối hay nhưng có hai chữ không hay.

Tôi hỏi:

- Hai chữ nào không hay, thưa Bác?

Bác nói:

- Nghĩa của câu đối là: "Tồn tại được khắc phát huy được ánh sáng, trời cho có sông núi thì ta càng mộng về nhà Tống. Ở đây là nơi duy nhất được làm nhà, đất không phải là Mân, Cảo vẫn cứ dấy lên được nghiệp nhà Chu. Câu đối hay là ở chỗ chỉnh. Không hay là người Việt mà lại mộng về nhà Tống và dấy nghiệp nhà Chu (không phải đất nước mình). Tại sao vậy?

Tôi bèn nói thật:

- Ở ngoài đường cái đi vào đây, hai bên đường, có bốn cửa hàng ăn: ba là của Hoa kiều và một là của vợ chồng anh Nuôi. Dân Xiêm (Thái Lan) đi chợ, thường vào ăn cơm ta, nên các chủ hàng cơm kia, góp tiền đút lót cho nhà chức trách, bắt vợ chồng anh Nuôi phải vào trong chợ cất nhà, bán hàng (lấy cớ là cần có đất xây nhà dây thép (tức bưu điện). Anh chị Nuôi đành phải vào chợ xây quán bán hàng và nhờ tôi làm câu đối chọc tức nhau chơi.

Bác bảo: "Nên đục bỏ đi hai chữ "Tống" và "Chu".

Tôi thấy bỏ hai chữ đó, câu cú tự nhiên cứng cáp và rất khí thế. Ừ, trời cho có sông núi thì ta càng mộng (về sông núi). Đất không phải là Mân, Cảo ta vẫn dấy được nghiệp (của ta) lên.

Tôi rất phục.

Tôi vốn hơn Bác ba tuổi, nhưng theo thói tục của bà con người Việt, từ U Đon đến cầu Bùng, chúng tôi đều gọi nhau (và gọi mọi người) là "các lão". Bác là lão Vương. Một hôm, ra cầu Bùng, ngồi chơi, tôi nói:

- Xem văn chương thấy lão chín chắn, còn tôi vẫn nhiều sơ hở lắm!

Khi về, tôi hỏi tên thực của Bác, vì Vương chỉ có thể là họ, không thể là tên. Bác bảo:

- Lão đặt tên cho mình rồi đó thôi. Mình là lão Chín Chắn. Gọi tắt là lão Chín. Gặp người Xiêm, chúng tôi giới thiệu Bác là Thào Chín hay Thầu Chín (tùy theo đối tượng gặp: Thào là cậu, còn Thầu là ông già).

Vào dịp đó, Hội cử tôi đi cùng Bác dọc theo sông Mê Kông để nói chuyện với đồng bào. Bác cần một cái bay và một cái thước thợ nề. Tôi gánh hai cái xô, trong đó có một cái niêu nấu cơm và một cái niêu có tí tôm hay thịt kho. Bác lại đeo trên vai một chai nước chè tầu. Đi nhiều ngày từ U Đon đến Xa Văng xuống Pắc Xế.

Dọc đường, hàng ngày, cứ khoảng mười một giờ, tôi lại tìm một gốc cây treo cái "phe", trải chiếc chiếu vòng nhỏ để Bác ngả lưng, còn tôi lấy cái que khô, viết lên cát một bài hiệu triệu, nhưng Bác bảo không được viết dài. Tôi nhớ bài đầu tiên tôi viết:

Tổ quốc treo cờ ba sắc

Nhân dân thay kiếp ngựa trâu

Trông càng nhục

Nói càng đau

Con mồ côi

Dân thuộc địa

Gánh mối sầu thiên thu.

Khi Bác thức giấc, Bác đọc và góp ý:

- Nhân dân ta không hay nói "Tổ quốc" mà nói "đất nước" vì đất nước thân thiết hơn. Treo nên đổi thành cắm, vì treo là tự nguyện không thấy căm thù. Ở đất nước mình, nó đến nó cắm đấy chứ có phải dân mình treo đâu. Nhân dân nên đổi thành đồng bào vì đồng bào rất thân thiết, chung bọc, chung lòng, chung cảnh ngộ hơn. Dân thuộc địa nên đổi thành dân nô lệ. Còn câu cuối "Gánh mối sầu thiên thu" nên đổi thành "Muốn cất đầu chẳng lên". Còn về hình thức, hát bồng mạc là hay rồi!

Bác đề nghị đồng bào ở Sa Côn lập trường cho trẻ em học (buổi sáng học chữ Xiêm, buổi chiều chữ Việt). Hội viên mỗi người góp năm mươi bạt. Ban hưng công chúng tôi cứ chắc mẩm là ở Sa Côn có hai nhà giàu hẳn là phải góp nhiều hơn, chí ít cũng phải hai trăm bạt. Không ngờ cũng chỉ góp năm mươi bạt. Ông nho San, trưởng ban hưng công, đề nghị tôi làm đôi câu đối để phê phán người có tiền mà bủn xỉn việc công đức. Tôi bèn viết:

Cha ông đâu, quê quán nơi đâu, đất lạ tháng ngày dơ mặt bạc

Anh em hỡi, giống nòi ta hỡi, thù chung non nước tạc lòng son.

Trong Hội Thân Ái, ai cũng thích. Năm sau, Bác về, đến thăm trường. Thấy câu đối, Bác hỏi:

- Sao lại viết thế này?

Tôi đáp:

- Cho đẹp thôi mà!

Bác bảo:

- Không phải! Câu đối này có ý công kích người có tiền đây: Không đúng tôn chỉ của Hội Thân Ái là đoàn kết mọi kiều bào ở đây. Viết thế này là ta lại vạch mặt ta. Không được! Sửa đi!

Cố nhiên, tôi phải sửa, nhưng theo ý lão Chín, không cần sửa nhiều. Bởi vì kiều bào cũng là người lao động, chịu khó mới giàu, không nên dùng lời lẽ "dơ mặt bạc" và "tạc lòng son".

Ai làm giàu cũng dơ mặt bạc hay sao? Và những người chủ có tấm lòng nhạt nhạt, không phải lòng son thì không cần quan tâm đến thù chung sao. Tôi thấy phải quá, nên sau một đêm tôi thay "dơ mặt bạc" bằng "thẹn mặt" và thay "tạc lòng son" bằng "ghi lòng".

NGUYỄN TÀI kể GS Hà Văn Cầu ghi