 |
|
Hòa nhịp bài ca chiến sĩ (Đoàn Thành Tô, Phòng không Hải Phòng). Ảnh: Phạm Mạnh Kiên |
Đất nước ta, đất nước của những cuộc hành quân không nghỉ để chống chọi với thù trong, giặc ngoài, để chiến thắng đói nghèo và lạc hậu. Và cũng vì thế các ca khúc mang âm hưởng chiến đấu và thể hành khúc đã trở thành một phương thức biểu đạt quan trọng để cả dân tộc cùng hát, cả dân tộc cùng đi tới tương lai. Trong đời sống tinh thần của dân tộc hành khúc là tiếng kèn xung trận, là lời thề nước non, là sức sống mãnh liệt “tiếng hát át tiếng bom” để đưa dân tộc bước lên đài vinh quang của độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội.
Hành khúc đầu tiên trong kho tàng ca khúc cách mạng Việt Nam là bài “Cùng nhau đi hùng binh” sáng tác năm 1930 của Hồng Nhu. 80 năm đã đi qua nhưng âm vang tiếng trống Xô-viết, của bước chân các chiến sĩ xích vệ vẫn sống động trong lòng người hát, người nghe. Tiếp đó là các hành khúc “Cờ Việt Minh” của Vương Gia Ninh, “Tiếng gọi thanh niên” của Lưu Hữu Phước và Mai Nam Bộ, ca khúc “Lên Đàng” của Lưu Hữu Phước và Huỳnh Văn Tiểng, “Du kích ca” của Đỗ Nhuận. Giáo sư âm nhạc Dương Viết Á gọi những khúc quân hành này “là những bản anh hùng ca yêu nước và ngưỡng vọng lịch sử”. Mặc dầu ca từ của những ca khúc này còn nặng về hô hào, kêu gọi, còn phảng phất giai điệu nhạc kèn phương Tây nhưng không gian văn hóa của những ca khúc này là ngày đầu của một cuộc cách mạng hoàn toàn mới mẻ cho nên những lời kêu gọi tập hợp, biểu tình, lên đường… hoàn toàn phù hợp với nhu cầu của người hát thỏa mãn khát vọng của dân tộc ở thời điểm ấy. Khí phách và khát vọng độc lập đã thổi “hồn thiêng sông núi” vào cho những ca khúc này nên năm tháng đi qua mà tiếng đồng vọng của một thuở “mang gươm đi cứu nước” vẫn thổn thức lòng người. Tính dự báo và nhạy cảm của thể hành khúc trong thời kỳ này được biểu hiện rõ nét trong “Tiến quân ca” sáng tác năm 1944 của nhạc sĩ Văn Cao. Chính sự đồng cảm giữa cảm xúc nghệ sĩ và cảm xúc cách mạng đã làm nên một sự dự cảm về những điều cao đẹp tiếp cao đẹp, tập hợp sức mạnh của mỗi người thành sức mạnh dân tộc. Khúc quân hành này đã trở thành quốc ca, thành lời thề của lớp lớp thế hệ Việt Nam và trở thành lời đồng vọng của bạn bè bốn biển năm châu trong cuộc sống hội nhập.
Hòa mình vào cuộc trường chinh của dân tộc trong kháng chiến chống thực dân Pháp, các nhạc sĩ đã theo sát cuộc hành quân của dân tộc nên hào khí cuộc trường chinh đã đi vào âm nhạc một cách dung dị đằm thắm. “Đoàn vệ quốc quân” (Phan Huỳnh Điểu), “Bình Trị Thiên khói lửa” (Nguyễn Văn Thương), “Nam Bộ kháng chiến” của Tạ Thanh Sơn, “Tiểu đoàn 307” của Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Bình, “Hò kéo pháo” của Hoàng Vân, “Đường lên Tây Bắc” của Nguyễn Thành đã trở thành những âm hưởng hùng ca mở đầu cho cao trào “Giải phóng Điện Biên” và “Tiến về Hà Nội” của Văn Cao. Những khúc quân hành này đã trở thành sử thi, thành những bức tượng đài âm thanh sống mãi cùng lịch sử dân tộc. Từ sự hóa thân vào “văn hóa kháng chiến của dân tộc” mà sức sống của những miền dân ca đằm thắm nghĩa tình nước non này đã ùa vào các sáng tác một cách dung dị, tự nhiên.
Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng hành cùng các bước phát triển của cuộc chiến đấu là sự phát triển của các khúc quân hành cả về đề tài, chất liệu âm nhạc và phong cách thể hiện. Tên tuổi những anh hùng, tên tuổi những miền quê chiến công đã đi vào câu hát trên đường ra trận. Theo thống kê của Thư viện quân đội đã có hơn 900 ca khúc viết về Trường Sơn được khán giả cả nước mến mộ. Mến mộ không chỉ vì chất hùng ca, tính hoành tráng của nó mà vì tâm hồn của người ra trận. Văn hóa giữ nước của dân tộc đã trở thành nét đẹp nhân văn cao cả, sức mạnh diệu kỳ để vượt qua cuộc chiến đấu ác liệt có một không hai trong lịch sử mà người chiến sĩ mang ra trận. Sau ngày Bác đi xa không lâu, một khúc quân hành mới âm vang khắp mọi nẻo đường đất nước, đó là “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”, lời hứa với Bác, lời thề với non sông nâng bước chân người chiến sĩ trong khúc quân hành hùng tráng mà thấm đượm yêu thương này. Nếu như khúc quân hành “Giải phóng Điện Biên” và “Tiến về Hà Nội” là cao trào, của màn liên hành khúc chống Pháp thì “Tiến về Sài Gòn” và “Như có Bác trong ngày vui đại thắng” là hai khúc hát quân hành vừa như một cao trào vừa như một vĩ thanh vừa có hậu như cổ tích, dân ca, mở ra cho dân tộc một trang sử mới, lưu danh vào sử vàng những trang huyền thoại Việt Nam-Hồ Chí Minh và thế kỷ phong ba.
Mùa xuân 1984, mặc dầu đất nước đang phải đương đầu với những khó khăn khác thường nhưng với những dự cảm tinh tế, nhạy bén của người nghệ sĩ, nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền đã viết hành khúc “Hát mãi khúc quân hành”. Đây là khúc ca hùng tráng để những người lính Cụ Hồ và cả dân tộc bước vào một cuộc chiến đấu mới với đói nghèo, lạc hậu, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới, hội nhập của đất nước. “Đời mình là một khúc quân hành/ Đời mình là bài ca chiến sĩ/ Ta ca vang lời non nước/…”. Lời ca sảng khoái, bước đi vững chắc, tự tin, khúc quân hành này đã nhanh chóng đi vào lòng người như một lời thề với non nước, cha ông.
Những mùa xuân đổi mới, thắng lợi tiếp theo người chiến sĩ vẫn “đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi”. Cuộc chiến đấu mới vẫn không kém phần quyết liệt, thử thách, hy sinh, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ lại tỏa sáng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, chiến thắng đói nghèo, chống chọi với thiên tai, đẩy lùi tiêu cực và lạc hậu… Ấy vậy nhưng trong đời sống âm nhạc người chiến sĩ lại thiếu vắng những khúc quân hành trong những cuộc chiến này! Vì sao vậy? Vì thị hiếu âm nhạc ư? Không. Trăm lần không bởi những khúc quân hành năm xưa người lính vẫn hát say mê trên bãi tập, trận địa, trong các đêm văn nghệ, các hội thi tài. Trong tình cảm người lính Cụ Hồ “đó là những ca khúc đi cùng năm tháng” mãi mãi sống, mãi mãi chắp cánh cho tâm hồn họ. Vì tài năng người nghệ sĩ ư? Không-trăm lần không. Lớp nhạc sĩ trẻ hôm nay được đào tạo, giáo dục bài bản, giao lưu rộng, mở hơn lớp cha anh xưa nhiều.
Nhu cầu ư? Công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN của chúng ta hôm nay là nguồn cảm hứng lớn để các nhạc sĩ sáng tác những hành khúc rộn rã cổ vũ những bước đi mạnh mẽ của dân tộc và tuổi trẻ hướng tới tương lai. Vấn đề là tổ chức sáng tác như thế nào? Đã có những cố gắng ở một số ngành địa phương, song đó mới chỉ là đơn lẻ, chưa thành phong trào, càng chưa thể bật lên như một cao trào.
NGUYỄN KHẮC THUẦN