 |
|
Ảnh minh họa |
Trong kho tàng tác phẩm chèo Việt Nam hiện đại, cùng với tác giả khác, Giáo sư (GS), NSND Trần Bảng đã góp phần đáng kể vào sự phát triển rực rỡ của nền sân khấu dân tộc và cách mạng. Đặt các kịch bản văn học chèo của ông vào các thời điểm lịch sử mà nó ra đời ta thấy lấp lánh những giá trị đáng trân trọng. Một trong những vở chèo của GS, NSND Trần Bảng được đánh giá tốt là “Tình rừng”. Tại nhà riêng bên hồ Giảng Võ, ông đã kể cho tôi nghe về quá trình sáng tác vở chèo nổi tiếng này:
- Năm 1972, lúc ấy cả nước đang có chiến tranh, Đoàn chèo Trung ương (nay là Nhà hát chèo Việt Nam) đi sơ tán nhưng vẫn đều đặn dựng vở. Là Trưởng đoàn, tôi luôn suy nghĩ, lo lắng về các tác phẩm. Lúc ấy, tôi nhận được kịch bản chèo của một tác giả không chuyên ở Tuyên Quang viết về đề tài Lâm nghiệp. Vì tác giả còn non tay nên vở chèo chỉ mới dừng lại ở cái tứ. Tôi bàn với anh em phải có một tác phẩm về rừng để đoàn dàn dựng, biểu diễn.
Cuối mùa hạ 1972, tôi cùng với kíp sáng tác gồm nhạc sĩ Bùi Đức Hạnh, họa sĩ thiết kế sân khấu Nguyễn Đình Hàm và người trợ lý đạo diễn đi Quảng Ninh. Những ngày ở Quảng Ninh, Ty Lâm nghiệp đã tạo điều kiện thuận lợi để chúng tôi thâm nhập thực tế, lấy tư liệu. Chúng tôi đến các lâm trường Bình Liêu, Ba Chẽ, Hoành Bồ… ra đảo Minh Châu. Gần một tháng trời nhóm tác giả cùng ăn, cùng ở với anh chị em công nhân là những người thợ khai thác, trồng rừng. Điều lôi cuốn tôi nhất là trong các lâm trường đều có nhiều người dân tộc thiểu số được tuyển vào làm công nhân. Họ kể cho chúng tôi nhiều câu chuyện hay nhưng rất thật. Trong cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng ai cũng yêu rừng, không chịu xa rừng làm tôi cảm phục. Mấy cô gái người dân tộc Dao nói với tôi “Xa rừng là chúng em chết”.
Thế là suốt mấy đêm, trong chiếc lán nhỏ giữa rừng Quảng Ninh, tôi đã viết xong “Tình rừng”. Khi về Hà Nội, tôi chỉ việc trau chuốt, sửa chữa. Về thủ pháp sáng tác vở chèo “Tình rừng” được đẩy lên một tầm nhất định. Tôi coi rừng như một nhân vật, có đời sống, có số phận, có hồn vía. Bố cục của kịch bản cũng không phân chia cảnh 1, 2… mà chỉ có phần mở đầu, mùa hè, mùa thu, mùa đông và kết thúc bằng mùa xuân. Rừng cùng với con người là một vũ trụ, không có rừng con người không thể sống nổi? Một sáng tạo nữa trong bút pháp là xây dựng nhân vật Hoa Nẻng. Một cô gái người Dao xinh đẹp, sinh ra ở rừng, lớn lên giữa rừng, nguyện gắn bó lâu dài với rừng. Đấy là mẫu nhân vật được sáng tạo hoàn toàn mới.
Tháng 9-1973, Nhà hát chèo Việt Nam công diễn vở “Tình rừng” tại nhà hát thành phố. Báo Văn nghệ tổ chức buổi trao đổi, tọa đàm về vở diễn và sau đó có nhiều bài viết về “Tình rừng” trong suốt hai tháng liền. Cùng với Nhà hát chèo Việt Nam, các đoàn chèo Bắc Giang, Yên Bái… cũng dàn dựng. Theo tôi được biết, vở chèo “Tình rừng” đã diễn hơn 500 buổi.
Thời gian lùi xa, tôi càng thấy những dự báo, phát hiện trong vở chèo “Tình rừng” đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tôi càng thấm thía lời một nhà thơ: “Tổ quốc ở giữa rừng sâu thẳm/Tổ quốc hết rừng là Tổ quốc nguy vong”.
Mỗi chúng ta hãy biết yêu quý và bảo vệ rừng.
NGUYỄN ĐÌNH PHƯỢNG