Không đặt tư thế nghiên cứu, nhà thơ Dương Kiều Minh (qua tác phẩm "Tìm hiểu người xưa qua sách cổ" Nhà xuất bản Lao động, 2006, Dương Kiều Minh sao lục, tùy đàm) chỉ trình bày một phương hướng cơ bản của anh nhằm tự bồi đắp, rèn giũa nhân cách thi sĩ và thi nghiệp, qua những gì anh học được từ văn hóa, văn chương phương Đông, cụ thể là Trung Quốc cổ và Việt Nam trung đại.
Không đặt tư thế nghiên cứu, nhà thơ Dương Kiều Minh (qua tác phẩm "Tìm hiểu người xưa qua sách cổ" Nhà xuất bản Lao động, 2006, Dương Kiều Minh sao lục, tùy đàm) chỉ trình bày một phương hướng cơ bản của anh nhằm tự bồi đắp, rèn giũa nhân cách thi sĩ và thi nghiệp, qua những gì anh học được từ văn hóa, văn chương phương Đông, cụ thể là Trung Quốc cổ và Việt Nam trung đại.
Luôn khiêm cung trước biển học, nhà thơ thế hệ 6X này cho thấy được sự nghiêm cẩn thâu nhận kiến văn ở bề sâu, theo lối của anh. Vừa đọc vừa ngẫm nghĩ thận trọng, từ tốn trước các đấng bậc văn hóa văn chương cùng thành quả tác phẩm không hề đơn giản của họ. Cụ thể, trước khi "tùy đàm" bao giờ anh cũng chép lại nguyên bản, có khi cứ để nguyên văn những sưu lục về thơ Tống, về một số tác gia đời Thanh bàn về thơ, về các cổ nhân ta luận bàn văn chương… Chép nguyên văn, không bình luận, cũng chính là một cách bình luận tỏ ý hoàn toàn chịu tâm phục khẩu phục. Lối "tùy đàm" này rất giúp ích bạn đọc càng phải thận trọng hơn khi đọc lại những văn bản được Dương Kiều Minh trữ tích, lựa lọc, cung cấp. Về một số "tùy đàm" do chính anh viết, riêng tôi tự thấy được gợi ý, bổ dưỡng cho học tập, suy nghĩ về văn chương, về thơ và cả về đời. Mà xem chừng Dương Kiều Minh còn chú ý hơn đến những nghĩ ngợi đường đời qua hành xử văn chương của người xưa, cho nên có thể nói anh chủ yếu học hiểu người xưa với mục tiêu rèn nay, hành nay. Hành nay bao gồm cả sống và viết. Ba "tùy đàm" về thơ Lê Thánh Tông, về hai bài thơ cảm hoài của Đặng Dung và Hồ Quý Ly, về đọc câu đối của Cao Bá Quát, nhân đó anh "liều bàn" như một thể loại thơ hai câu, đã bổ sung cho tôi những hiểu biết cần thiết, đúng và trúng về con người và thi ca của các nhân vật tiếng tăm này (thí dụ: thơ rất mực thi sĩ của Lê Thánh Tông khác với loại thơ ngôn chí của ông vua thuần túy). Dĩ nhiên tôi cũng đòi hỏi "đến điều" hơn các bài "Theo dấu chân các nhà thơ đời Lý", "Kim Thánh Thán luận bàn về các nhà thơ đời Đường". Tập sách 275 trang này là một tâm sự chân thật, kiên định của một người làm thơ tự thức về khó khăn và cao cả của nghiệp nghệ thi ca muôn đời, trong đó có hôm nay.
TRÚC THÔNG