Tuy nhiên, trước tác động của hội nhập và kinh tế thị trường, nhiều giá trị truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một, đòi hỏi cách tiếp cận đổi mới, bền vững. Phóng viên Báo Quân đội nhân dân có cuộc trao đổi với đồng chí Trịnh Ngọc Chung, Cục trưởng Cục Văn hóa các dân tộc Việt Nam (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) để làm rõ hơn thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa cộng đồng 54 dân tộc anh em.

 Đồng chí Trịnh Ngọc Chung. 

Phóng viên (PV): Thưa đồng chí, thời gian qua, công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc Việt Nam đã đạt được những kết quả nổi bật gì?

Đồng chí Trịnh Ngọc Chung: Cách đây 80 năm, ngày 19-4-1946, trong Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau...”. Tiếp nối tư tưởng của Người, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa 54 dân tộc anh em, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Những năm qua, các giá trị văn hóa truyền thống từng bước được chuyển hóa thành nguồn lực phát triển thông qua việc kiểm kê, lập hồ sơ, ghi danh và hệ thống hóa di sản ở cấp quốc gia và quốc tế. Nhiều không gian văn hóa và lễ hội truyền thống được phục dựng, duy trì thường xuyên, tạo điều kiện để văn hóa dân tộc được thực hành, trao truyền và phát triển trong cộng đồng.

PV: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, nhiều giá trị văn hóa truyền thống, phong tục, tập quán các dân tộc đứng trước nguy cơ mai một. Đồng chí đánh giá thực trạng này như thế nào và đâu là giải pháp khắc phục?

Đồng chí Trịnh Ngọc Chung: Trong cuộc sống hiện đại, chỉ cần cú nhấp chuột máy tính hay vuốt tay trên màn hình smartphone, nhiều người dễ dàng tìm hiểu, trải nghiệm về văn hóa, phong tục, tập quán của các dân tộc trên thế giới. Đây vừa là cơ hội để quảng bá văn hóa các dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là nguy cơ khi người dân đối mặt với các yếu tố xâm nhập bởi văn hóa ngoại lai. Trang phục truyền thống dần bị thay thế bởi quần áo hiện đại; tiếng nói, chữ viết của người dân tộc thiểu số cũng ít được sử dụng trong đời sống hằng ngày; sinh hoạt văn hóa bị ảnh hưởng bởi các trào lưu trên mạng xã hội... Bên cạnh đó, tác động của du lịch và kinh tế thị trường khiến một số giá trị văn hóa bị biến tướng, mất đi tính nguyên bản. Đây là xu hướng mang tính tất yếu trong quá trình hội nhập và phát triển mà bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng phải đối mặt, nhưng không vì thế mà chúng ta buông lỏng công tác bảo tồn và phát huy.

Không gian văn hóa Tây Nguyên tại Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 2026 hấp dẫn du khách. Ảnh: MINH TRANG 

Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần tiếp cận theo hướng đổi mới và bền vững. Trước hết, cần hiện đại hóa phương thức truyền tải văn hóa, đưa di sản lên các nền tảng số, sử dụng công nghệ và ngôn ngữ phù hợp với giới trẻ để văn hóa có thể chủ động tiếp cận công chúng. Cần chú trọng bảo tồn dựa vào nội lực cộng đồng, lấy người dân làm trung tâm, biến việc gìn giữ văn hóa trở thành nhu cầu tự thân, thói quen sinh hoạt hằng ngày, thay vì chỉ dừng lại ở hoạt động trình diễn mang tính sự kiện. Trong đó, chúng tôi xác định, nghệ nhân là chủ thể đặc biệt quan trọng, giữ vai trò mạch nguồn của di sản văn hóa.

Thời gian qua, các cấp, các ngành đã triển khai tương đối đồng bộ các chính sách theo hướng vừa tôn vinh, vừa tạo điều kiện để nghệ nhân phát huy vai trò. Cụ thể, công tác xét tặng danh hiệu Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú được thực hiện ngày càng chặt chẽ, kịp thời, qua đó ghi nhận xứng đáng những đóng góp của nghệ nhân. Các chính sách hỗ trợ về kinh phí, trợ cấp và hoạt động truyền dạy cũng từng bước được hoàn thiện, giúp nghệ nhân yên tâm gắn bó với công việc gìn giữ và trao truyền di sản cho thế hệ kế cận.

PV: Theo đồng chí, cần có những giải pháp nào để thực hiện nhiệm vụ “chú trọng bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc thiểu số” mà Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đề ra?

Đồng chí Trịnh Ngọc Chung: Để hiện thực hóa các mục tiêu của nghị quyết, chúng tôi xác định tập trung vào 3 trụ cột chính: "Thể chế-đầu tư-chủ thể".

Về thể chế, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách đặc thù, ưu tiên đối với các dân tộc rất ít người và các loại hình di sản có nguy cơ mai một. Việc hoàn thiện chính sách cần đi theo hướng đặc thù, linh hoạt, phù hợp với từng nhóm dân tộc và từng loại hình di sản. Không chỉ dừng ở bảo tồn tĩnh như lưu giữ, sưu tầm, thể chế phải tạo hành lang pháp lý để văn hóa sống trong đời sống đương đại, như hỗ trợ truyền dạy tiếng nói, chữ viết, khôi phục lễ hội, nghề truyền thống. 

Về đầu tư, cần huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt từ các chương trình mục tiêu quốc gia, nhằm từng bước hạ tầng hóa các giá trị văn hóa. Ngoài ra, nguồn lực không chỉ dừng ở ngân sách nhà nước mà cần huy động xã hội hóa, lồng ghép hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia. Điểm quan trọng là hạ tầng hóa văn hóa cần phải được đầu tư phù hợp, nhưng phải đầu tư có trọng tâm, tránh dàn trải, đồng thời kiểm soát chặt chẽ để không làm biến dạng giá trị nguyên bản.

Về chủ thể, yếu tố then chốt là nâng cao vai trò của cộng đồng, để người dân thực sự trở thành chủ thể sáng tạo, gìn giữ và đồng thời là đối tượng thụ hưởng trực tiếp các giá trị văn hóa. Khi người dân thấy rõ lợi ích và tự hào về văn hóa của mình, họ sẽ chủ động gìn giữ, trao truyền cho thế hệ trẻ. Do đó, cần nâng cao nhận thức, hỗ trợ nghệ nhân với những chế độ tốt hơn nữa, khuyến khích lớp trẻ tham gia, đồng thời tạo sinh kế từ văn hóa để gắn bảo tồn với phát triển.

PV: Trân trọng cảm ơn đồng chí!