Sức hút của “tài sản nghệ thuật”

Nền kinh tế Việt Nam sau nhiều thập kỷ đổi mới và hội nhập sâu rộng đã chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng về số lượng cũng như tiềm lực tài chính của tầng lớp trung lưu và thượng lưu trong xã hội. Sự song hành giữa dòng chảy phát triển của đời sống kinh tế-xã hội, sự thăng hoa của các trào lưu nghệ thuật đang kiến tạo nên hệ sinh thái mới. Ở đó, hội họa không chỉ được nhìn nhận qua lăng kính thẩm mỹ mà còn trở thành những khối tài sản được định giá, thu hút dòng vốn từ các nhà sưu tập, đầu tư trong và ngoài nước.

Xét về khía cạnh thưởng ngoạn thẩm mỹ, một bộ phận không nhỏ người mua tranh đang tìm kiếm sự đồng điệu về mặt tâm hồn. Họ tiếp cận tác phẩm thông qua những rung cảm trực giác trước bố cục, màu sắc, kỹ thuật cọ vẽ và thông điệp mà người nghệ sĩ muốn truyền tải. Tuy nhiên, gắn với xu thế mới, việc sở hữu tác phẩm hội họa giá trị không đơn thuần là minh chứng cho niềm đam mê nghệ thuật.

Quang cảnh phiên đấu giá tranh nghệ thuật đương đại do thương hiệu HELIOS tổ chức tại Hà Nội, tháng 2-2026. Ảnh: HOÀNG DƯƠNG

Nhiều năm trở lại đây, ngày càng có nhiều người xem đó như một kênh đầu tư dài hạn. Dữ liệu giao dịch công bố từ các phiên đấu giá thời gian qua cho thấy, đã có những khoản đầu tư vào tác phẩm mỹ thuật mang lại mức lợi suất cao và đà tăng trưởng giá trị vẫn liên tục thiết lập những mặt bằng giá mới theo thời gian. Để thị trường mỹ thuật có thể hấp thụ được nguồn vốn lớn đang đổ vào, hệ thống nguồn cung tác phẩm nghệ thuật cũng vươn lên đáp ứng những tiêu chuẩn khắt khe về mặt chất lượng nghệ thuật, xuất xứ và định danh tác giả. Sự gia tăng nhanh chóng về số lượng gallery, không gian nghệ thuật đương đại và đặc biệt là các nhà đấu giá như Lạc Việt Auction, Le Auction House, Millon Việt Nam (chi nhánh của Pháp)... đã góp phần hỗ trợ cho điều này.

Theo các chuyên gia, những thiết chế mỹ thuật này có vai trò làm cầu nối, thu hẹp khoảng cách giữa họa sĩ và giới đầu tư. Đặc biệt, trong 3 năm gần đây, thị trường chứng kiến nhịp độ sôi động, nhất là ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh... với các triển lãm, phiên đấu giá quy mô lớn, tỷ lệ tác phẩm được bán ra rất khả quan.

Làn sóng “hồi hương” di sản Đông Dương

Danh sách tên tuổi bán được tranh với giá trị cao và có sức ảnh hưởng thị trường thường xoay quanh những bậc thầy kiến tạo nên nền hội họa hiện đại Việt Nam. Minh chứng tại các phiên đấu giá uy tín, tác phẩm của những danh họa như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Lê Phổ, Mai Trung Thứ... liên tục được giao dịch với mức giá khiến dư luận choáng ngợp, thậm chí xô đổ chính các kỷ lục thiết lập trước đó.

Nhiều ý kiến cho rằng, việc giới sưu tập dồn nguồn lực săn lùng tác phẩm của những tên tuổi của mỹ thuật Đông Dương không chỉ vì kỹ thuật tạo hình xuất sắc mà bởi họ chính là những chứng nhân lịch sử. Đó là những họa sĩ mang trong mình hồn cốt, sự quật cường của cả một dân tộc đi qua nhiều thăng trầm biến thiên của thế kỷ 20. Các tác phẩm của họ dường như độc chiếm phân khúc triệu đô trên các sàn đấu giá quốc tế danh giá toàn cầu như Sotheby's hay Christie's. Cùng với đó, các tác phẩm mỹ thuật mang đậm tính bi tráng ra đời trong giai đoạn kháng chiến và một số ít thuộc thời kỳ đổi mới cũng ngày càng được định giá cao trong thị trường nghệ thuật khu vực.

Đặc biệt, thị trường mỹ thuật Việt Nam những năm qua chứng kiến làn sóng “hồi hương” di sản được thúc đẩy bởi chính các nhà sưu tập trong nước. Nhìn lại lịch sử lưu chuyển của các tác phẩm này, ngay từ những năm đầu thế kỷ 20 đến giai đoạn chiến tranh, rất nhiều tác phẩm của thế hệ sinh viên tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương và các họa sĩ khóa kháng chiến đã lọt vào tầm ngắm thẩm mỹ của các cá nhân, tổ chức nước ngoài.

Tính đến thời điểm hiện tại, một số lượng lớn tác phẩm quan trọng của danh họa thời kỳ đó đang ngự trị trong các bộ sưu tập của Bảo tàng Quốc gia Singapore, Bảo tàng Pasifika (Indonesia), cũng như rải rác tại tư dinh của giới tài phiệt ở Mỹ, châu Âu, Trung Quốc, Hàn Quốc... Trong khi đó, những nhà sưu tầm mới lại không ngừng khao khát sở hữu chúng, đẩy giá trị các tác phẩm này chạm đến ngưỡng hàng triệu USD.

Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Bùi Hoàng Anh, Giám đốc nghệ thuật Viet Art View, các nhà sưu tập trong nước cũng rất mạnh tay hồi hương các tác phẩm quý của mỹ thuật Việt Nam. Trong số hơn 20 tác phẩm của các danh họa hàng đầu Việt Nam, đấu giá 1-3 triệu USD, hầu hết được nhà sưu tập trong nước mua. Ví dụ “Chân dung cô Phương” (năm 1930, sơn dầu) của Mai Trung Thứ giá 3,1 triệu USD năm 2021; “Gia đình trong vườn” (năm 1938, lụa) của Lê Phổ giá 2,37 triệu USD năm 2023; “Dáng hình trong vườn” (năm 1973, sơn dầu) cũng của Lê Phổ giá 2,29 triệu USD năm 2022...

“Khi đời sống xã hội ngày càng cao, nhu cầu thưởng thức tác phẩm nghệ thuật sẽ ngày càng nhiều hơn. Khi thị trường có cầu chắc chắn sẽ có nhiều dịch vụ cung ứng. Xét từ nguyên lý trên, có thể thấy thị trường nghệ thuật Việt Nam ngày càng tốt hơn”, nhà nghiên cứu Bùi Hoàng Anh nhận định. 

Kiến tạo hệ sinh thái phát triển bền vững

Mặt trái của sự bùng nổ giá trị thương mại là vấn nạn tranh giả, tranh chép và đạo nhái ý tưởng đang bủa vây thị trường mỹ thuật Việt Nam. Nhìn riêng về mỹ thuật Đông Dương, nhà nghiên cứu, giám tuyển nghệ thuật Ace Lê phân tích, trước những biến động của chiến tranh, nền mỹ thuật Đông Dương đã mất đi một khối lượng khổng lồ tư liệu gốc quan trọng. Hồ sơ về xuất xứ tác phẩm bị thất lạc, dẫn đến nạn tranh giả khá nhức nhối đối với các tác phẩm mỹ thuật Đông Dương. Trong khi đó, vấn đề kiểm định hiện nay tại các sàn đấu giá đang bộc lộ những lỗ hổng do sự thiếu hụt nhân sự chuyên sâu.

Ngày 14-11-2025, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó mỹ thuật-nhiếp ảnh-triển lãm được xác định là một trong 10 ngành công nghiệp chủ chốt. Chiến lược cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển đồng bộ, dựa trên cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là cách góp phần kiến tạo một thị trường mỹ thuật sôi động, minh bạch và vươn tầm thế giới. 

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Bùi Hoàng Anh cho rằng, đời sống xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu thưởng thức nghệ thuật ngày càng nhiều. Việc đầu tư, nâng cao cơ sở vật chất, đào tạo đội ngũ nhân viên chất lượng, nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân viên tư vấn... hoạt động nghiêm túc, tuân thủ đúng pháp luật sẽ tạo được uy tín và niềm tin với khách hàng. Ngoài ra, sự xuất hiện của các công ty tư vấn nghệ thuật với đội ngũ chuyên gia trong nhiều lĩnh vực từ mỹ thuật, sử học, văn hóa, giáo dục, kinh tế... có kiến thức chuyên sâu và kinh nghiệm thực tế thực hiện vai trò kết nối giữa bên mua và bên bán, khiến các quyết định mua bán trở nên chính xác hơn cũng góp phần tích cực cho thị trường nghệ thuật phát triển minh bạch.

Song song với đó, dư địa thúc đẩy thị trường nghệ thuật nước nhà phát triển nằm trong tay nghệ sĩ trẻ. Khi tranh Đông Dương hiện diện phần lớn ở nước ngoài với giá trị kinh tế quá cao, không phải ai cũng có thể sở hữu, cùng với nạn tranh giả ngày càng tinh vi, người ta quay lại, nhìn về các tác phẩm nghệ thuật của nghệ sĩ trong nước, nhất là nghệ sĩ trẻ. Trên thực tế, nhiều năm trở lại đây bắt đầu xuất hiện nhiều trường hợp người mua tranh của nghệ sĩ trẻ có hoạt động tốt, đang định hình tên tuổi và hy vọng rằng trong tương lai, tác phẩm đó sẽ tăng giá, đem lại cơ hội cho nghệ sĩ. 

Giám đốc nền tảng trực tuyến thông tin nghệ thuật Hanoi Grapevine Nguyễn Tú Hằng cho rằng: Các nghệ sĩ thường chăm chút, tập trung sáng tác, còn làm thế nào để tác phẩm của họ được nhiều người biết đến hơn, vấn đề nằm ở các kênh kết nối. Đó có thể là không gian trưng bày, triển lãm, quảng bá nghệ thuật, không gian trao đổi, mua bán nghệ thuật hoặc các chương trình giao lưu, trò chuyện... hỗ trợ tăng sự hiện diện của nghệ sĩ trước công chúng. “Nói là hỗ trợ nhưng thực chất đó là sự cộng sinh và thị trường nghệ thuật cần sự cộng sinh như thế để có hướng đi tốt nhất”, bà Nguyễn Tú Hằng nói.

Trong vài năm tới, thị trường nghệ thuật ở Việt Nam sẽ còn nhiều biến đổi khi giới thực hành ngày càng nhiều song hành với các tổ chức, không gian sáng tạo hỗ trợ nghệ thuật. Vì vậy, việc xây dựng một thị trường minh bạch, lành mạnh và bền vững không chỉ phụ thuộc vào các nhà đầu tư, nhà sưu tập, đội ngũ nghệ sĩ mà còn cần đến sự quan tâm của Nhà nước. Điều này không những thể hiện ở chính sách hỗ trợ cho các dự án, tổ chức nghệ thuật mà còn là độ mở trong cách nhìn về sáng tạo, giá trị của sáng tạo, từ đó khuyến khích tạo ra nhiều sân chơi, thúc đẩy thị trường nghệ thuật phát triển.