William Stafford thuộc thế hệ của John Berryman và Robert Lowell, sinh năm 1914, mất năm 1993, lớn lên ở tiểu bang Kansas, học Đại học Kansas. Tại đây, anh bắt đầu chọn con đường viết văn, tham gia vào cuộc vận động của sinh viên chống phân biệt chủng tộc. Stafford làm nhiều công việc khác nhau, từ lao động trên các cánh đồng củ cải đường, nhà máy lọc dầu, công việc xây dựng, ngành rừng và cuối cùng là giáo sư Anh văn tại Portland, Oregon. Ngoài các tập thơ, ông còn viết nhiều truyện ngắn, tiểu luận.
Có vẻ như Stafford không có một cố gắng nào để đưa ra các đề tài lớn lao về xã hội; và hình như ông chỉ làm thơ để tự vui thú chính mình. Mặc dù thế, người đọc bao giờ cũng bắt gặp trong những bài thơ của ông một cuộc chiến đấu gian nan nhưng đẹp đẽ của một lương tâm bền bỉ. Trong bài thơ "Đi qua bóng tối", ông viết:
Lái xe trong đêm, tôi nhìn thấy một con hươu/Chết nằm bên vệ đường/Tốt nhất là lăn nó xuống mương/Đường hẹp, xe tránh nhau nguy hiểm chết người./Theo ánh sáng đuôi xe, tôi đi vòng lại/Đứng bên cái chết còn mới nguyên/Mình con hươu cứng lại, gần lạnh giá./Tôi kéo ra, bụng nó phồng lên./Khi chạm tay vào một bên tôi chợt hiểu/Da bụng ấm, bào thai còn sống/Đang đợi chờ, nhưng chẳng được ra đời./Tôi đứng bên đường suy nghĩ bồi hồi./Ngọn đèn sáng chiếu thấp dần phía trước;/Tiếng máy nổ rì rì bên dưới mui xe./Tôi đứng trong vùng hộp máy hồng đỏ rực;/Quanh lũ chúng tôi lắng nghe thiên nhiên lắng nghe. /Tôi suy nghĩ rất lung cho tất cả chúng ta/ Rồi đẩy nó qua bờ lăn xuống bến sông xa.
Giọng thơ giản dị, có tính chất mô tả, ít ngôn ngữ mơ hồ như thường gặp trong một số bài khác của ông, mời người đọc đi vào cuộc đối thoại trực tiếp giữa họ và ông, giữa con người và thiên nhiên. Một người bạn của tôi, người Nhật, nói với tôi rằng bài thơ này rất khó dịch qua tiếng Nhật mặc dù ngôn ngữ bề ngoài trông dễ hiểu. Tôi thử dịch ra tiếng Việt và cũng thấy đúng như thế.
Ngôn ngữ của William Stafford hàm súc và mặc dù ông ít dùng các biểu tượng, thơ ông chất chứa sự đa nghĩa, không phải là sự đa tuyến của lối thơ hậu hiện đại, mà là sự đa nghĩa xuất phát trực tiếp từ một triết lý thâm trầm nằm dưới những hiện thực được ghi nhận bằng cặp mắt trong suốt. Đây là một bài thơ tự sự tiêu biểu, một câu chuyện kể có đầu có đuôi.
Ngoài đời, việc dừng lại bên một con hươu bị chết, có lẽ do bị xe cán, và lăn nó xuống hố không phải là một hành động ngoại lệ hiếm hoi. Nhiều người sẽ bỏ qua trường hợp này. Nhưng tác giả đã ngồi xuống, đặt tay lên bụng con hươu, và vì vậy ông nhận ra hơi ấm, nhận ra sự sống. Bắt đầu từ đây có một mối xung đột. Anh có muốn cứu con hươu con trong bụng mẹ không?
Bài thơ nói với chúng ta, về sự phân vân của một người đi giữa cuộc đời, đang ở vào thế tiến thoái lưỡng nan. Nghĩ đến bài thơ, tôi yêu mến hơn phẩm chất cao đẹp của người trí thức: Sự hoài nghi. William Stafford thường mở ra những cuộc đối thoại nhân sinh gay cấn như thế trong những bài thơ mang vẻ ngoài giản dị, với giọng điệu từ tốn, dịu dàng của mình.
NGUYỄN ĐỨC TÙNG