Việt Nam hiện có 9 di sản thế giới được UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc) ghi danh, bao gồm các di sản văn hóa, thiên nhiên và hỗn hợp, với đặc điểm đa dạng về loại hình, quy mô, không gian quản lý và phạm vi tác động.

Quang cảnh cuộc họp lấy ý kiến về Đề án định giá tổng giá trị kinh tế di sản thế giới tại Việt Nam.

Dịp này, có 8 đề án thành phần dự kiến được triển khai tại Hoàng thành Thăng Long; Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà; Yên Tử - Vĩnh Nghiêm - Côn Sơn, Kiếp Bạc; Thành nhà Hồ; Phong Nha - Kẻ Bàng; Cố đô Huế; Phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn.

Việc lựa chọn các trường hợp này nhằm kiểm nghiệm khả năng áp dụng khung TEV (giá trị kinh tế tổng thể) đối với những loại hình và cấu trúc di sản khác nhau, từ di sản văn hóa, thiên nhiên đến các hệ thống di sản có tính phức hợp cao.

Hiện nay, tại Việt Nam chưa có một khung phương pháp lượng giá TEV thống nhất ở cấp quốc gia đối với di sản. Vì vậy, việc xây dựng một khung phương pháp thống nhất có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình chuẩn hóa chỉ tiêu, dữ liệu, quy trình khảo sát và cơ chế sử dụng kết quả lượng giá trong quản lý nhà nước về di sản và phát triển cộng đồng.

Theo Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tổng giá trị kinh tế Quần thể danh thắng Tràng An năm 2025 đã lượng hóa tỷ trọng các hợp phần giá trị văn hóa, tự nhiên, hệ thống cư trú. Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị văn hóa chiếm 49,31%, giá trị tự nhiên 38,99% và hệ thống cư trú 11,70%; đồng thời, cho thấy các giá trị phi thị trường và giá trị lan tỏa có vai trò đáng kể, bên cạnh các giá trị tiền tệ trực tiếp từ du lịch và sinh kế.

Đề án cũng đặt mục tiêu công bố các kết quả nghiên cứu theo chuẩn mực khoa học quốc tế, tăng cường hợp tác với các chuyên gia và tổ chức quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vị thế của hệ thống di sản thế giới Việt Nam, thu hút nguồn lực và từng bước hình thành hệ sinh thái kinh tế di sản gắn với mạng lưới đô thị di sản, thành phố sáng tạo và các mạng lưới văn hóa quốc tế.

Kết quả của Đề án được định hướng trở thành nguồn thông tin và căn cứ khoa học hỗ trợ ra quyết định, phục vụ quản lý nhà nước, nghiên cứu, xây dựng và điều chỉnh chính sách, đánh giá hiệu quả đầu tư, xác định nhu cầu và ưu tiên nguồn lực, lập quy hoạch và kế hoạch quản lý. Đồng thời, thúc đẩy phát triển kinh tế di sản theo hướng bền vững. TEV không thay thế các căn cứ pháp lý, hồ sơ chuyên ngành, quy trình thẩm định hay quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đồng thời không làm thay đổi các nguyên tắc và nghĩa vụ bảo vệ giá trị nổi bật toàn cầu của di sản.