“Văn hóa truyền thống vốn là những sáng tạo của cha ông trong quá khứ để lại, giữ gìn lâu bền cũng như phát huy nó tốt nhất chính là người dân. Gia nhập WTO, chúng ta đã có vũ khí che chở, đó là công ước của WTO quy định văn hóa không là hàng hóa, mà đã không là hàng hóa thì nước sở tại có chính sách bảo hộ, ngăn chặn sự xâm hại từ bên ngoài”. Giáo sư Tô Ngọc Thanh-Chủ tịch Hội văn nghệ dân gian Việt Nam đã bắt đầu câu chuyện với chúng tôi bằng những lời khẳng định như vậy.

Liên tiếp những vinh dự đã đến với nghệ thuật truyền thống của Việt Nam, đó là năm 2004 UNESCO đã công nhận Nhã nhạc cung đình Huế, rồi đến 2006 Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là “Kiệt tác di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại”.

“Kiệt tác của nhân loại” đó là danh hiệu cao quý mà bất cứ môn nghệ thuật truyền thống nào cũng muốn có được, bởi vậy hiện nay chúng ta đang gấp rút hoàn thành việc lập hồ sơ Ca trù người Việt và Quan họ Bắc Ninh để đệ trình lên UNESCO xét duyệt, vậy những môn nghệ thuật truyền thống này có hy vọng sẽ trở thành kiệt tác di sản của nhân loại? Giải thích rõ ràng về câu hỏi này của chúng tôi, GS Tô Ngọc Thanh cho biết:

Năm 1989, tại phiên họp Đại hội đồng UNESCO đưa ra hai chính sách:

1. Công nhận một danh hiệu cho một sản phẩm văn hóa phi vật thể, danh hiệu ấy gọi là “Kiệt tác di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại”.

2. Luôn luôn được lưu giữ, trình diễn, bổ sung, truyền dạy cho lớp trẻ thông qua trí nhớ và tài năng của những nghệ nhân. Trên thực tế, văn hóa của mỗi nước đang được gìn giữ bằng chính những con người này. UNESCO tặng cho họ danh hiệu “Báu vật nhân văn sống”.

Từ năm 1989, UNESCO khuyến nghị trong 10 năm tiếp theo, tức là đến năm 1999 các nước tổng điều tra và lên danh mục di sản văn hóa phi vật thể mà nước mình có. Bắt đầu từ năm 1999 các nước đã đệ trình hồ sơ để được xét duyệt là kiệt tác. Cũng năm này, UNESCO Việt Nam đã đề nghị Hội văn nghệ dân gian lập hồ sơ Chèo Tàu và múa của dân tộc Thái để đưa đi "thi đấu", nhưng vào đến vòng 2 thì cả hai môn nghệ thuật của chúng ta bị loại. Chúng ta tiếp tục lập hồ sơ Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, kết quả là những di sản này đã được công nhận là Kiệt tác di sản văn hóa của nhân loại.

Nhưng năm 2003, UNESCO đã thông qua công ước bảo vệ Di sản văn hóa phi vật thể, và từ năm 2005 công ước có hiệu lực: không phong danh hiệu “Kiệt tác di sản văn hóa truyền miệng và phi vật thể của nhân loại” nữa, mà sẽ được gọi bằng tên mới: “Di sản văn hóa đại diện”. Trước đây những danh hiệu được phân thành 3 cấp độ từ cao đến thấp: cao nhất là kiệt tác, thứ đến là tiêu biểu và cấp thứ 3 là đại diện. Năm 2006 UNESCO chưa làm được hướng dẫn thi hành gửi đến các nước. Hiện tại, UNESCO chưa nhận hồ sơ công nhận “Di sản văn hóa đại diện”, vì đang còn soạn thảo điều lệ hướng dẫn. Chính vì thế, nghệ thuật ca trù và quan họ có được UNESCO công nhận hay không thì chúng ta vẫn còn phải chờ, đây cũng là những hy vọng của tất cả người dân Việt Nam.

Ngoài những nghệ thuật phi vật thể kể trên, kho tàng văn hóa cổ truyền của chúng ta còn rất đồ sộ. Vậy để bảo tồn và phát huy những di sản đó chúng ta sẽ phải làm gì?

Theo GS Tô Ngọc Thanh: Khôi phục, gìn giữ cho dân, bảo tồn trong dân và hội nhập vào cuộc sống hôm nay của họ là phương cách tốt nhất để những kiệt tác di sản văn hóa của nhân loại cũng như những nghệ thuật truyền thống khác được phát huy rộng rãi. Và trong quá trình hội nhập với thế giới chúng ta có cơ hội biến những di sản đó thành tài sản đương đại. Ông cũng nhận định, không thể nói giới trẻ ngày nay quay lưng lại với nghệ thuật truyền thống. Nói họ không yêu văn hóa truyền thống của dân tộc là không công bằng. Minh chứng là đến huyện Quốc Oai, Hà Tây sẽ được thưởng thức điệu hát Dô do cả 4 thế hệ hát, và có thể được nghe hát ngay khi yêu cầu chứ không phải đợi 36 năm mới được nghe như trước đây; hay như tới Lào Cai được nghe thanh niên nam, nữ người Dáy hát đối đáp; đến Cần Thơ được các chàng trai, cô gái uyển chuyển trong điệu hát múa Robăm của người Khơ-me Nam bộ… Còn nếu nói giới trẻ chưa hướng tới văn hóa truyền thống là vì họ chưa được giáo dục về vốn văn hóa đó trong suốt tuổi thơ. Bởi thế những người đi trước cần phải giáo dục con em mình, hướng dẫn họ bước vào cuộc sống bằng hai chân: truyền thống và hiện đại. Dù cuộc sống có hiện đại, văn minh đến đâu đừng quên nói với thế hệ trẻ rằng, mỗi con người sinh ra phải là con của một nhà, dân của một làng, thành phần của một dòng họ, công dân của một nước... Nhận thức được như vậy họ sẽ biết mình cần phải trang bị những gì để bước vào dòng chảy hội nhập với thế giới.

Nhân dân ta, từ đời này sang đời khác đã sáng tạo nên những giá trị văn hóa, truyền những di sản vô giá đó đến chúng ta. Dù danh hiệu ở cấp độ nào, khi đã chưa hoặc không được "ghi danh", mọi giá trị, mọi di sản văn hóa đều đã là máu thịt là nội lực trong chúng ta và chính chúng ta phải gìn giữ, phát huy.

VƯƠNG HÀ (ghi)