QĐND - Đối với chúng ta ngày nay, nhân dân là một khái niệm rất gần gũi, quen thuộc nhưng cũng mang một ý nghĩa thiêng liêng, cao quý, và vĩ đại.
Trong tiếng Việt, xét về danh từ, đó là đông đảo những người dân, thuộc mọi tầng lớp, đang sống trong một địa bàn nhất định: Quần chúng nhân dân, nhân dân lao động, ý kiến của nhân dân, đồng nghĩa với nhân dân còn có: Dân chúng, quần chúng; xét về tính từ, đó là thuộc về đông đảo những người dân, nhằm phục vụ cho lợi ích của đông đảo người dân, quân đội nhân dân, chiến tranh nhân dân, phòng không nhân dân.
Nhân dân, tiếng Anh là People, tiếng Pháp là Peuple, tiếng Hán là Nhân dân.
Thế nhưng xét về góc độ lịch sử và văn hóa, từ xa xưa, nhân dân chưa được hiểu như bây giờ. Riêng về từ dân trong tiếng Hán, đó là một từ tượng hình mà không ai ngờ rằng nó có nguồn gốc từ Kim văn là hình con mắt bị một vật nhọn đâm mù. Sở dĩ như vậy là vì từ ngày xưa, dưới thời chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc, sau những cuộc xung đột, giao tranh, lúc đầu tù binh bị giết chết. Nhưng từ đời nhà Hạ trở đi, những người đứng đầu công xã đã biết giữ tù binh lại làm nô lệ. Thế rồi sợ nô lệ chống đối hay bỏ trốn, người ta đã chọc thủng mắt trái, chỉ để lại con mắt phải cho họ nhìn thấy mà lao động. Như vậy dân vốn bắt nguồn từ những người nô lệ, bộ phận thấp kém nhất trong xã hội - bị xem là loại động vật, chẳng khác gì lừa, ngựa, trâu, bò, chỉ có giá trị như là con. Nhưng bởi lẽ, nô lệ có số lượng đông đảo, lại chiếm thành phần chủ yếu trong quá trình tạo ra của cải nên đã có một ảnh hưởng không nhỏ đối với mọi điều kiện kinh tế, chính trị đất nước, vì thế mà ngay từ thời chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc, các triều đại Hạ, Thương, Chu kế tiếp nhau sụp đổ đều là không được nhân dân ủng hộ. Bởi vậy, tư duy chính trị “dân là gốc của nước” (dân vi quốc bản) đã được hình thành từ thời điểm ấy và đã là bài học quan trọng đối với sự tồn vong của từng thể chế chính trị.
 |
|
Bộ đội Ban CHQS huyện Mèo Vạc làm dân vận tại bản Chó Do, xã Cán Chu Phìn (Mèo Vạc, Hà Giang). Ảnh: X.B
|
Sang thời phong kiến, tuy không còn bị xem là những công cụ lao động biết nói nhưng dân vẫn nằm trong địa vị phụ thuộc mà chế độ phong kiến Trung Quốc gọi thần dân. Thần, nghĩa đen là bề tôi, là tầng lớp quan lại phải chịu khuất phục, chịu sự chi phối của nhà vua và dĩ nhiên, theo trật tự xã hội, thần dân phải xếp dưới tầng lớp quan lại. Điều này không phải ở phương Đông mà dưới chế độ phong kiến ở các nước phương Tây, tình hình này cũng diễn ra tương tự. Thần dân, tiếng Pháp là Sujets (nghĩa đen là phụ thuộc, là phải phục tùng), tiếng Anh là Subject (là khuất phục, là bắt phải chịu), theo tiếng Nga là chịu, là bị, là ngả theo.
Dần dần, theo sự phát triển của xã hội, sự đi lên của lịch sử nhân loại, đặc biệt là sau khi chủ nghĩa nhân văn-một trào lưu tư tưởng chống lại chủ nghĩa phong kiến-xuất hiện ở châu Âu từ thế kỷ XIV- XV, nhân dân bắt đầu có một vai trò thích đáng. Trước từ dân, người ta đã đưa từ nhân vào thay thế cho từ thần để trở thành cặp từ nhân dân hoàn chỉnh. Nhân có nghĩa là người. Trong tiếng Hán, ở Giáp cốt văn và Kim văn, từ nhân giống như hình người đứng nghiêng, giơ một cánh tay ra phía trước. Từ Lệ thư trở đi, dạng tự có sự thay đổi nhiều hơn. Đến Khải thư, hai nét dưới của dạng tự lại giống hai chân người như từ nhân hiện nay. Như vậy, từ địa vị con, dân xã bước lên địa vị người và có một vị trí rất to lớn. Chính vì thế mà trong tiếng Hán, hai dạng tự của từ đại-nghĩa là to lớn-và của từ thái-nghĩa là rất to, lớn-đều giống như hình người dang rộng cả hai tay và hai chân. Sự khác nhau giữa hai dạng tự này chỉ là một dấu chấm ở dưới.
Chính vì có sự phát triển và thay đổi như vậy, dân từ chỗ hèn hạ, với địa vị thấp kém nhất của xã hội, ngày nay, qua một thời gian đấu tranh rất lâu dài, nhân dân đã có một vị trí cao quý, vĩ đại, giữ vai trò quyết định tất cả mọi công việc trong lịch sử. Bởi thế, nhiều nhà khoa học cho rằng, không nên viết riêng từ dân như trong cụm từ “lấy dân làm gốc” như hiện nay mà nên viết là “lấy nhân dân làm gốc của nước”-vì nội hàm của nó đã có sự thay đổi rất lớn, ít nhất là ba lần: Từ Chủ nghĩa nhân văn trong phong trào Văn hóa Phục hưng, như đã nói, đến Đại cách mạng tư sản Pháp năm 1789 rồi đến Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917-thì nghĩa của từ này mới thể hiện được sự trong sáng, sự phát triển đầy đủ, hoàn chỉnh trên các mặt lịch sử, chính trị, văn hóa, xã hội, ngôn ngữ.
Ở Việt Nam ngày nay, nhân dân là chủ nhân của đất nước, của xã hội, là chủ thể của nền văn hóa dân tộc. Nhân dân đồng nghĩa với vĩ đại, với vĩnh hằng, với vô địch. Ai đi với nhân dân, người đó trở thành vô địch. Quân đội ta là người chiến thắng trong các cuộc chiến tranh giải phóng dưới thời hiện đại nên được mệnh danh là Quân đội nhân dân vì nó là một tổ chức vũ trang của nhân dân, do dân thành lập và chiến đấu cho quyền lợi của nhân dân. Thật vậy, quân đội ta “từ nhân dân mà ra”, đúng với nghĩa của nó. Vì nó không phải là một cộng đồng người, được Nhà nước vũ trang để làm nhiệm vụ quốc phòng như thông lệ của các quân đội trên thế giới mà ngay từ khi ra đời, với tư cách là một tổ chức nghĩa quân, nó nhằm mục đích chính trị là đánh Pháp, đuổi Nhật, lật đổ Nhà nước phong kiến, giải phóng cho nhân dân khỏi gông cùm nô lệ.
Như chúng ta đã biết, để trở thành vĩ đại, vĩnh hằng, trở thành “NGƯỜI viết hoa”, bản thân nhân dân cũng đã phải đấu tranh quyết liệt, chống lại mọi cường quyền, áp bức trong xã hội suốt mấy ngàn năm. Còn quân đội ta, sở dĩ trở thành vĩ đại, đã lần lượt trải qua những tên gọi khác nhau: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Giải phóng quân, Vệ quốc đoàn, Quân đội quốc gia rồi cuối cùng đến Quân đội nhân dân thì tên gọi ấy mới đứng vững với thuộc tính vĩnh hằng của nó là nhân dân vì nó đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, giúp nhân dân Việt Nam từ địa vị nô lệ, hết sức thấp kém hèn hạ của chế độ thực dân, phong kiến, lên địa vị người, địa vị công dân, địa vị chủ nhân ông dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng đất nước tự do, giàu đẹp.
Dương Xuân Đống