QĐND Online – Thị trường vàng mã phát triển ồ ạt những năm gần đây khiến những người làm nghề tranh dân gian Đông Hồ (xã Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh) dần bị mai một khi nhiều người "chuyển nghề". Quy mô, lượng người sản xuất tranh truyền thống vùng Kinh Bắc còn lại quá nhỏ hẹp và đang đứng trước nguy cơ thất truyền.

Làng tranh chỉ còn 2 nghệ nhân

“Trung tâm giao lưu văn hóa dân gian” của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế làm giám đốc khá bề thế sát chân đê sông Đuống. Trung tâm có diện tích chừng 6 nghìn mét vuông này cũng là nơi sản xuất, giới thiệu, quảng bá sản phẩm của hơn 10 nhân công làm tranh dân gian Đông Hồ.

Mộc bản bộ tranh “Tam quốc diễn nghĩa” của gia đình nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam mà theo anh Nguyễn Hữu Quả đã bị thất lạc, bị cháy giờ không lưu được trọn bộ nhưng vẫn là của hiếm.

Giám đốc Nguyễn Đăng Chế dáng người nhỏ thó, nhanh nhẹn, ông đi đám cưới về sớm để còn kịp đón 70 du khách đã hợp đồng từ trước lên thưởng ngoạn và mua tranh. Trong lúc chờ đợi đoàn khách, ông tranh thủ tiếp chúng tôi cùng ông Nguyễn Đình Thể ở xã Hoài Thượng – khách hàng đến mua tranh. Sau một hồi lựa chọn và nghe chủ nhà giới thiệu, quảng bá, ông Thể dừng lại ở cặp “Vinh hoa - Phú quý” mà theo ông, món quà ấy vừa túi tiền, “thấm đẫm hồn dân tộc, quê hương, có ý nghĩa sâu xa cho người nhận”.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế giới thiệu chi tiết về sản phẩm độc đáo của quê hương mình. Tranh Đông Hồ có bề dày lịch sử 500 năm, thời hoàng kim của nghề tranh dân gian có tới 90% gia đình, dòng họ trong làng làm tranh từng được xuất khẩu ra thế giới. Ông nhớ nhất là tuổi ấu thơ được tham gia làm tranh, bán tranh ở các phiên chợ tháng Chạp. Người khắp nơi dồn về mua tranh, xem những bức nổi tiếng như: “Đám cưới chuột”, “Chăn trâu thổi sáo”, “Lợn đàn”, “Hứng dừa”, “Vinh quy bái tổ”...

“Dịp trước, sau Tết Nguyên đán Quý Tỵ, Trung tâm luôn đông khách. Tôi rất  mừng vì có thêm việc làm, thu nhập, nhưng vui nhất là dòng tranh dân gian quê mình chưa mất hẳn chỗ đứng trong thị hiếu người chơi đương đại”, giám đốc Nguyễn Đăng Chế tâm sự.

Có xem và nghe trực tiếp nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế giới thiệu, chúng tôi mới thấy hết cái hay, cái đẹp, dân dã, sự thâm thúy, ẩn ý sâu xa của tranh dân gian Đông Hồ. Tuy nhiên, người làm tranh cũng như hiểu biết về tranh Đông Hồ hiện nay không còn nhiều, hiện chỉ còn nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế, Nguyễn Hữu Sam.

Anh Nguyễn Hữu Quả, con trai của nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam theo cha làm tranh từ nhỏ, cho biết, gia đình lưu giữ hàng nghìn mộc bản khắc tranh, trong đó có những mộc bản tương đương với tuổi thọ của làng tranh Đông Hồ. Anh Quả đã dày công nghiên cứu, phục chế, làm mới một số tác phẩm “Sắc phong” của triều Nguyễn.

Anh Quả khẳng định, mộc bản là tài sản của làng tranh. Trước đây, đã có người sẵn sàng trả giá 20 tỷ đồng cho một mộc bản nhưng gia đình anh không đồng ý bán.

 “Lội ngược dòng” với tranh Đông Hồ

Khắp dọc đường vào làng tranh Đông Hồ, hầu như nơi nào cũng có những vật dụng liên quan đến hàng mã. Bà bán nước chè đầu làng, một tay rót nước mời khách, tay còn lại vẫn cầm mấy nan tre đang vót dở để làm “ông ngựa” hàng mã.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế giới thiệu ý nghĩa bức tranh “Đám cưới chuột”

Anh Nguyễn Nhân Vụ, trưởng thôn Đông Khê (Song Hồ) khẳng định, hiện ở thôn anh có trên 400 hộ, chỉ còn duy nhất hai gia đình còn gắn bó với nghề làm tranh. Bởi làm tranh hiện nay không bán được, không có thu nhập người dân không biết dựa vào đâu mà sống.

Một trong những người ít ỏi chuyển “ngược” từ làm vàng mã sang làm tranh là anh Nguyễn Ngọc Chiến, 47 tuổi, con rể của nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế. Không ngậm ngùi vì sự chuyển “ngược” ấy, nhưng anh Chiến lại liệt kê hàng chục thanh niên tỷ phú thế hệ 7x, 8x ở Đông Hồ, phất lên nhờ làm hàng mã. Anh cho biết “Vợ chồng anh góp cổ phần xây dựng doanh nghiệp, thu nhập khoảng 10 triệu/tháng. Không là tỷ phú, nhưng cái được lớn nhất là đã góp phần cùng gia đình vợ duy trì, bảo tồn nghề truyền thống”.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, ngoài sự mất mát về số lượng nghệ nhân, gia đình làm nghề cũng như nghề tranh ở Đông Hồ còn bị mai một, mất mát rất nhiều thứ. Riêng hệ thống mộc bản của các gia đình từng làm nghề, thời cực thịnh là 17 dòng họ có đến hàng vạn mộc bản, nay chỉ còn rất ít gia đình giữ làm kỷ niệm.

Anh Nguyễn Hữu Quả đau xót chia sẻ, mộc bản làm tranh là thứ quý hiếm, thể hiện công sức, sáng tạo nghệ thuật, tâm hồn của người làm tranh, được làm bằng gỗ thị nên dai, chắc, bền nhưng có gia đình mang làm củi đun, làm thớt băm bèo lợn. Bên cạnh đó là mất mát về tri thức. Làm tranh phải hiểu cả về chữ nghĩa bởi kèm theo mỗi bức tranh là câu thơ, ca dao, câu đối, đề dẫn bằng chữ Hán, chữ Nôm. Nếu người không biết chữ lại phục chế sai, chữ tác đánh chữ tộ, có sứt mẻ cũng không biết, cho nên người làm tranh Đông Hồ cũng phải nghiên cứu, học tập chữ, nghĩa.

Bên cạnh đó, dù chỉ còn hai gia đình làm tranh nhưng rất khó khăn về địa điểm mặt bằng sản xuất, nguồn lực tài chính, mua nguyên vật liệu như gỗ thị khắc bản mộc, hồ điệp, giấy dó…

Được biết, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Để làng tranh Đông Hồ không bị xóa sổ, các cơ quan chức năng phải có cơ chế và  biện pháp bảo tồn, phát triển, cụ thể là hỗ trợ, khuyến khích, mở rộng phạm vi sản xuất, đề nghị phong danh hiệu nghệ nhân, tổ chức cho các nghệ nhân truyền và dạy nghề, bảo tồn mộc bản, mở rộng quảng bá, tuyên truyền về giá trị tranh, tổ chức cho các gia đình tham gia các hội chợ, triển lãm, trưng bày ở phạm vi cả nước…  thì làng nghề tranh dân gian truyền thống của dân tộc mới có cơ hội phát triển.

Bài, ảnh: ĐÀO ĐỨC HANH