Bài 2: Định vị giá trị con người Việt Nam từ cội nguồn dân tộc
QĐND - “Ta là ai?”, “Ta từ đâu đến?”, xin không bàn theo ý nghĩa khởi nguyên của triết học mà chỉ khẳng định, trả lời theo ý nghĩa xã hội của vấn đề: “Ta là ta. Ta là người Việt Nam”. Cho dù thế giới văn minh toàn cầu hóa sâu sắc đến nhường nào thì mỗi người Việt Nam khi hội nhập đều phải thường trực câu trả lời: “Ta là ta. Ta là người Việt Nam”. Đó cũng là tư thế hội nhập, cái vốn để mang đi hội nhập. Và khi đã hội nhập sâu sắc với thế giới, lại càng có điều kiện để nhìn nhận lại mình cho rõ ràng hơn.
 |
|
Thanh niên TP Điện Biên Phủ tổ chức phục vụ nước uống (miễn phí) dịp kỷ niệm 60 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Ảnh: Xuân An
|
Những phẩm chất cơ bản nhất của con người Việt Nam truyền thống
Những dòng đầu tiên trong phần Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nghị quyết Trung ương 9 chỉ rõ: “Chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách. Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật, mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc”.
Phát biểu kết luận Hội nghị Trung ương 9 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định: “Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn; lòng tự tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết hài hòa giữa cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; là đức hy sinh cao thượng, tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân; là sự ứng xử văn minh, lịch sự, tính giản dị và trong sạch trong lối sống”.
Như vậy, yêu nước là thang giá trị cao nhất của con người Việt Nam ta. Điều này được khẳng định qua hàng nghìn năm lịch sử vô cùng gian lao, vô cùng hiển hách của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước".
Lòng yêu nước đã trở thành “gien di truyền” của người Việt Nam trước tất cả các loại kẻ thù để giữ vững giang sơn gấm vóc. Lòng yêu nước là động lực thôi thúc các thế hệ người Việt Nam vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao trên nhiều lĩnh vực của thế giới. Lòng yêu nước là cơ sở của đại đoàn kết toàn dân để hóa giải tất cả những vấn đề phức tạp chủ quan và khách quan tác động đến dân tộc. Lòng yêu nước gắn chặt với lòng tự tôn, tự cường dân tộc; tinh thần cộng đồng gắn kết hài hòa giữa cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc. Trong những thời điểm cam go nhất của lẽ tử sinh, bao giờ lòng yêu nước của người Việt Nam cũng chiến thắng vô cùng oanh liệt. Đó là khí tiết của Triệu Thị Trinh: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở Biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người”. Đó là tiếng thét lớn của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Đó là lời hô trên pháp trường của Nguyễn Văn Trỗi: “Hồ Chí Minh muôn năm!”. Lòng yêu nước gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã: “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”; “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”; “Làng là cái nước nhỏ, nước là cái làng to”… Dù ở đâu, làm gì, mỗi người dân Việt Nam vẫn đinh ninh tình làng nghĩa nước.
Cùng với yêu nước, dân ta có lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình, đạo lý. Đó là tính cách bền vững của các cư dân nông nghiệp, mà người Việt Nam ta là một điển hình. Ta đã thấy truyền thống đạo lý “Thương người như thể thương thân”, rồi lại “Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”. Truyền thống đạo lý ấy được dân ta vận dụng không chỉ với đồng bào mình mà với cả kẻ thù, khi chúng đã cùng đường thì đó không phải là thời cơ tận diệt chúng, mà lại “Thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh”.
Trong cuộc sống hằng ngày, con người Việt Nam từ xưa rất giản dị, trong sáng, thủy chung, kính trọng tiền nhân. "Chim có tổ, người có tông", mỗi dịp Giỗ Tổ Hùng Vương, năm nào cũng vậy, hàng triệu đồng bào khắp mọi miền hành hương về Đất Tổ thể hiện lòng thành kính với tổ tiên. Và cũng chính từ nơi đây hiện lên những hình ảnh đẹp đẽ như lời thơ của Vũ Quần Phương:
Nước bốn nghìn năm, nơi cổ sơ
Cỏ cây quen thuộc đến bây giờ
Nơi vua cày ruộng, quan trồng lúa
Công chúa làm nương và dệt tơ.
Đó là một xã hội chan hòa, rất đỗi giản dị, trong sáng, vua, quan, công chúa… không phải ngồi trong chín tầng lầu son gác tía mà cùng thần dân cày ruộng, dệt tơ. Truyền thống tuyệt vời ấy không chỉ có trong huyền thoại và sử sách, nó hiển hiện cả trong thời hiện đại, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bà con tát nước, sử dụng máy cấy lúa… Đó là những trang sử đẹp và rất đáng tự hào của dân tộc ta.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, không ít những điều mắt thấy tai nghe làm chúng ta băn khoăn, lo lắng.
Một số nguy cơ đe dọa, xói mòn bản sắc văn hóa trong mỗi con người
Nghị quyết Trung ương 9 đánh giá: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Đời sống văn hóa tinh thần ở nhiều nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng”.
Đó là cách nhìn nhận, đánh giá rất khách quan, không né tránh sự thật, vừa vạch trần, vừa cảnh báo những nguy cơ đặc biệt nghiêm trọng cho văn hóa, con người.
Sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là nguyên nhân chủ quan. “Công tác quản lý Nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm”. Điều ấy đã rõ, đằng sau đó là tác động vừa ngấm ngầm, vừa công khai, thách đố của một quan niệm sống vì đồng tiền. Nhiều người đã nhầm lẫn giữa giá trị đích thực của con người với lượng tiền, vàng, nhà đất… người ta có, đi ngược lại truyền thống giản dị, trong sáng, trong sạch của cha ông; nguy hại thay, có lúc, có nơi, điều đó trở nên thống lĩnh, ngự trị. Nếu con người mà lấy thước đo giá trị bằng lượng của cải mà không phân định nguồn gốc của cải đó; xem nhẹ những giá trị văn hóa, khoa học, đạo đức… người ta có được, thì đó là nguy cơ cho cả xã hội loài người. Rất tiếc, đã có lúc, có nơi xảy ra hiện tượng đáng buồn trên nên mới có chuyện suy thoái.
Nói “suy thoái” nghĩa là cái tốt, cái lương thiện, cái đúng mực bị lu mờ, nhường chỗ cho những cái “thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội, tội phạm có chiều hướng gia tăng”, như Nghị quyết đánh giá. Đó chính là tâm lý nghi ngờ, thậm chí không tin tưởng đường lối lãnh đạo của Đảng, a dua, nói theo người khác, nói lấy được, phủ nhận thành tựu chung của đất nước đạt được trong mấy chục năm qua. Nhìn nhận các vấn đề lệch lạc, cực đoan, chỉ thấy mặt xấu, yếu, bất cập; còn cái tốt, cái cố gắng của toàn Đảng, toàn dân rõ ràng, thế giới cũng ghi nhận thì lại cho đó là “bình thường, tầm thường, tự nó đến”. Sự suy thoái về tư tưởng chính trị kéo theo sự suy thoái đạo đức, lối sống, có ở tất cả các ngành, các cấp, các lĩnh vực: Đó là việc chạy chức, chạy quyền. Đó là tệ nạn phong bì bất chính trong bệnh viện. Đó là tình trạng dạy, học thêm cưỡng bức vì thu nhập cá nhân và bệnh thành tích trong giáo dục. Đó là tệ cờ bạc, lô đề, cá độ trong cán bộ, công chức. Đó là tệ rượu, chè bê tha, coi nhẹ tình nghĩa ở thôn quê… Và không gì nguy hại hơn sự suy thoái ảnh hưởng đến công nghiệp văn hóa, sản phẩm văn hóa, “tiêu chí” văn hóa trong lớp thanh niên, thiếu niên hằng ngày sống chung với games online, với các trò chơi bạo lực, những bộ phim hoạt hình không đầu không cuối, gặp nhau là rút gươm chém luôn, đầu rơi máu chảy. Hầu hết các sản phẩm mang trên người các em nhỏ như quần áo, cặp sách (đến cả cái bút chì) cũng có gắn hình siêu nhân kỳ quái, xa lạ; phần lớn các nhãn mác bao bì đồ ăn cho thiếu nhi (từ gói bim bim trở lên) đều gắn những quảng cáo bóp méo hình ảnh con người. Như thế mới sinh ra bạo lực học đường, sinh ra thói lạnh lùng, vô cảm đang như một loại bệnh dịch tinh thần trong xã hội.
Giữ gìn, vun đắp phẩm chất văn hóa truyền thống làm cơ sở để con người Việt Nam tiếp thu tinh hoa nhân loại
Những năm gần đây, không ít lần các chuyên gia văn hóa cảnh báo một hiện tượng “Bội thực văn hóa”. Bản chất của hiện tượng này là trước làn sóng hội nhập văn hóa toàn cầu, nhiều người choáng ngợp, run sợ, sùng bái những cái của thế giới, rồi “với cái bụng trống rỗng văn hóa truyền thống”, họ nạp tất cả những cái gì họ thấy và... không “tiêu hóa” được. Nhưng oái oăm là, những người có điều kiện nạp bừa bãi những thứ (đôi khi là thải loại) của nước ngoài ấy, không phải là những người nông dân trong lũy tre làng mà họ lại là những người quảng giao, thậm chí có địa vị xã hội, lời nói, hành động, việc làm của họ có sự ảnh hưởng đến nhiều người khác. Vì vậy, trang bị đầy đủ bản lĩnh văn hóa cho mỗi công dân là việc cơ bản, lâu dài nhưng cũng rất cấp thiết để mỗi người Việt Nam là một chủ thể văn hóa trong quá trình hội nhập. Đó cũng chính là một trong những nội dung cần thiết hàng đầu cần xây dựng để tạo sức mạnh mềm của một quốc gia-dân tộc.
Những phẩm chất văn hóa truyền thống cần giữ gìn, vun đắp cho mỗi con người Việt Nam hôm nay bao gồm nhiều lĩnh vực, nhiều yếu tố nhưng cần chú trọng một số nội dung đặc biệt quan trọng và cần thiết sau đây:
Thứ nhất, mỗi công dân Việt Nam phải hiểu biết sâu sắc, yêu tha thiết, tự hào đúng mực về nền văn hóa dân tộc vô cùng phong phú, rực rỡ của tổ tiên để lại. Muốn thế phải học, trải nghiệm trong các môi trường gia đình, trường học, làng xóm, cộng đồng xã hội lành mạnh, hướng thiện. Nghị quyết nhấn mạnh: “Mỗi địa phương, cộng đồng, cơ quan, đơn vị, tổ chức phải là một môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, lối sống. Gắn kết xây dựng môi trường văn hóa với bảo vệ môi trường sinh thái. Đưa nội dung giáo dục đạo đức con người, đạo đức công dân vào các hoạt động giáo dục của xã hội”, là hoàn toàn đúng đắn.
Vấn đề “tự hào đúng mực” cũng rất cần thiết, đó là tự hào trên cơ sở hiểu biết, trên tinh thần khoa học, hiểu được cái tốt đẹp, đồng thời cũng biết được cái hạn chế của văn hóa dân tộc mình để tự hoàn thiện. Tránh tư duy cực đoan, hẹp hòi, thái quá, phiến diện.
Thứ hai, công tác giáo dục và quản lý văn hóa cần được đầu tư, coi trọng. Văn hóa không chỉ là “cờ đèn kèn trống”, cũng không chỉ là múa hát, trình diễn thời trang. Văn hóa hiểu theo tinh thần Đề cương văn hóa 1943 của Đảng, đó là văn hóa bao hàm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật. Ngày nay, định nghĩa về văn hóa có phát triển rộng, toàn bộ sản phẩm tinh thần và vật chất do con người sáng tạo ra, tồn tại, khẳng định giá trị qua thời gian, đó là văn hóa. Công tác giáo dục và quản lý văn hóa cần cả chiều rộng và chiều sâu, trọng tâm là xây dựng con người văn hóa. Các giá trị chân-thiện-mỹ luôn cần được đề cao; những hành động, sản phẩm núp danh khoa học và sáng tạo, thể nghiệm… nhưng thực chất là bậy bạ, bóp méo và phỉ báng văn hóa truyền thống như luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thoan, như một vài cuốn sách bóp méo ngôn ngữ tiếng Việt, như một vài tập thơ, tiểu thuyết, một vài bài hát… dung tục, nhục dục thấp hèn, cần nghiêm khắc loại trừ khỏi đời sống cộng đồng.
Thứ ba, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải làm gương, là người có văn hóa. Trong chiến tranh, dân ta tổng kết rất đúng: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau” và sự thực, cán bộ, đảng viên đã đi trước, hy sinh trước, như thế mới có cả làng nước theo sau để có ngày toàn thắng. Nay, người dân nhìn đội ngũ cán bộ với con mắt không còn được như mấy chục năm trước, vì chính đội ngũ cán bộ tự đánh mất mình, không chịu tu dưỡng rèn luyện, không thực sự là công bộc của nhân dân. Đối với xây dựng văn hóa và con người thì việc cán bộ nêu gương, những hành động không lời, làm gương từ cấp Trung ương đến cơ sở có vai trò quyết định.
Nhóm PV và CTV Báo Quân đội nhân dân
Bài 3: Vươn lên làm chủ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tê
Tin, bài liên quan:
Bài 1: VĂN HÓA GẮN CHẶT VỚI CON NGƯỜI