933 năm trước, Thái tử Lý Nhân Tông kế vị mới trên bảy tuổi. Hoàng đế nhà Tống được mật báo tình hình triều Lý phải do Hoàng thái hậu và Thái sư Lý Đạo Thành phụ chính, nội bộ khá rối ren. Các mưu thần nhà Tống luận bàn đó là thời cơ cho kế sách chiếm Thăng Long chinh phục Đại Việt. Rút kinh nghiệm thất bại cuộc xâm lăng lần thứ nhất (năm 981), các mưu sĩ Tống thực hiện kế sách "một chậm" chuẩn bị chiến tranh, lập những căn cứ chiến lược áp sát biên giới: Cổ thành Ung Châu (Quảng Tây), các cửa biển Liêm Châu và Khâm Châu (Quảng Đông) được xây dựng làm bàn đạp xuất phát tiến công.
 |
Các nguồn tin nước láng giềng đang gấp rút sửa soạn chiến tranh xâm lược liên tiếp bay về triều đình Đại Việt. Thái úy Lý Thường Kiệt nhận lệnh vua thống lĩnh ba quân sẵn sàng nghênh chiến. Ông khẩn trương thiết lập hệ thống ngăn chặn địch từ xa bảo vệ Thăng Long, chọn sông Như Nguyệt - sông Cầu làm chiến tuyến chủ yếu trên trục đường tiến đến kinh đô. Dòng sông Như Nguyệt, một chướng ngại thiên nhiên được tận dụng như một chiến hào chờ diệt địch. Bờ nam sông, từ chân núi Tam Đảo đến lục đầu giang đều dựng chiến lũy đất nện trộn rơm và mảnh sành, cọc tre già. Phía trong chiến lũy quân đi lại dễ dàng, phía ngoài chiến lũy là đầm lầy kẻ địch nằm đâu cũng bị lộ, ứng cứu nhau vô cùng bất lợi.
Tuy nhiên, Thái úy Lý Thường Kiệt đã không thỏa mãn phương pháp tác chiến chờ địch. Ông nói với tướng sĩ: "Thụ động phòng thủ là hạ sách. Ngồi yên đợi giặc không bằng diệt địch tại hang thù". Tư tưởng chiến lược "tiến công để phòng thủ" của Lý Thường Kiệt quả độc đáo mới lạ với các nhà quân sự đương thời. Ngay cả binh pháp Tàu khi đó cũng không bàn tới, họ chỉ quen "tấn" để xâm chiếm, đâu có nghĩ "tấn để phòng".
Lý Thường Kiệt tập trung mười vạn hùng binh chia hai đạo nhất tề cơ động thần tốc tập kích những căn cứ bàn đạp của địch. Tướng quân Tôn Đản chỉ huy đạo quân gồm ba vạn tướng sĩ bất ngờ tiến công tiêu diệt đồn trại giặc dọc biên giới, bao vây thành Ung Châu. Thống tướng Lý Thường Kiệt đốc xuất chủ lực quân vượt biển hội vây diệt địch đóng tại các căn cứ Khâm Châu, Liêm Châu.
Kẻ địch lâm thế bị động đối phó, không thể ứng cứu nổi nhau. Trước sức công phá dồn dập liên tục 42 ngày đêm, kẻ địch vỡ trận chạy tan tác. Lý Thường Kiệt hạ lệnh truy quét, tịch thu chiến lợi phẩm, giải tán các cơ cấu quân sự xâm lược của quân Tống tại đây. Sau 120 ngày đêm chiến đấu, ngày 1-3-1076 Lý Thường Kiệt cho lui quân về củng cố thế trận bảo vệ lãnh thổ.
Nhà Tống bị đòn tập kích quá nặng, vô cùng căm uất liền điều động 20 vạn quân do tổng binh Quách Quỳ thống lĩnh chinh phạt Đại Việt để trả thù. Quan binh Tống vốn thất đảm trước đòn thần tốc mới rồi, nay đi đến đâu cũng vấp các chiến tuyến vững chắc, đụng nghĩa quân Đại Việt chặn đánh bất kỳ lúc nào. Quân sĩ bị thương vong, lương thảo bị phá hủy, người không đủ ăn, ngựa đói chết như ngả rạ. Chúng cố gắng tiến đến phòng tuyến sông Như Nguyệt thì vừa hết hơi, liền bị chặn lại trước bãi chướng ngại, sa vào cái bẫy khổng lồ. Quân dân Đại Việt bao vây phản công quyết liệt suốt tám tháng (cuối 1076 đến giữa 1077) khiến quân Tống tan rã gần hết. Quách Quỳ không còn phương chống đỡ, y cuống cuồng cùng toán quân bản bộ mở đường máu tháo chạy. Chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của nhà Tống.
Chiến thắng Ung Liêm và chiến thắng Như Nguyệt diễn ra ở hai thời điểm khác nhau, trên hai không gian xa cách hàng nghìn dặm, cùng mục đích chống xâm lăng bảo vệ nước nhà, bảo vệ kinh đô. Với phương pháp tổng quan cho ta suy ngẫm: Chiến cuộc thứ nhất mang đầy đủ nghệ thuật tận dụng cao độ yếu tố bất ngờ, nghệ thuật dùng binh thần tốc, đặc biệt là công tác cung cấp bảo đảm thực hiện toàn vẹn đòn tập kích chiến lược. Chiến cuộc thứ hai trên sông Như Nguyệt là điển hình phòng ngự tích cực có chiều sâu được chuẩn bị sớm của thế trận chiến tranh nhân dân; của nghệ thuật tác chiến du kích liên tục tiêu hao địch kết hợp tác chiến tập trung tiêu diệt lớn sinh lực quân thù. Xét về yếu tố chính trị, thành công thứ nhất đã phát huy cao độ niềm tự hào dân tộc, kích thích tâm lý hưng phấn chủ động đánh địch bảo vệ mình. Đối với quân thù, làm suy sụp tinh thần quan binh giặc, đồng thời kích động tâm lý cuồng nộ mất sáng suốt của vua quan nhà Tống. Đó là yếu tố vô cùng hệ trọng góp phần quyết định thành công rực rỡ thứ hai của ta trên sông Như Nguyệt.
Ngày nay, nhìn lại sự tích xưa cho thấy bài học tinh thần dân tộc tự cường, nghệ thuật chiến lược, chiến dịch đã được vận dụng sáng tạo có hiệu quả trong cuộc chiến tranh giải phóng 30 năm qua. Nhìn lại chiến tích xưa còn mang ý nghĩa sâu sắc cho thời nay trong sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Nguyễn Việt Phương