Cùng với mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế và xã hội, kiến trúc chính là tấm gương phản chiếu sự thay đổi tích cực này. Thông qua diện mạo các đô thị, kiến trúc đã trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng nhất thể hiện sự thay đổi quan điểm của Đảng trong tiến trình phát triển đất nước. Sự chuyển mình của kiến trúc không chỉ là sự thay đổi của những vật liệu gạch đá, bê tông mà là sự thay đổi mang tinh thần thời đại, từ “khép kín, tự cung tự cấp” sang “cởi mở, hội nhập và sáng tạo”.
Đổi mới tư duy văn hóa: Nền tảng cho sự chuyển mình của kiến trúc
Giai đoạn hơn 10 năm kể từ khi đất nước hòa bình trước dấu mốc đổi mới (1975-1986) là một chương ngắn nhưng đặc biệt trong lịch sử kiến trúc Việt Nam. Với mơ ước về những thay đổi cuộc sống thời hậu chiến, hình thức kiến trúc của các công trình xây dựng mới thường thể hiện sự lạc quan, niềm tin vào một tương lai phát triển của đất nước.
Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế khó khăn và tình cảnh bị bao vây cấm vận, kiến trúc thời kỳ này vẫn dựa trên tinh thần tiết kiệm, "thắt lưng buộc bụng". Những sáng tạo trong kiến trúc đô thị vẫn phải ưu tiên giải quyết bài toán kinh tế hơn là thẩm mỹ. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều công trình bị hạn chế về mặt nghệ thuật, đa số chỉ đơn thuần là các cấu trúc xây dựng thỏa mãn nhu cầu cư trú hoặc làm việc cơ bản. Tính sáng tạo nghệ thuật trong kiến trúc phần nào bị lu mờ bởi những lo toan thực dụng. Những khu tập thể lắp ghép tấm lớn hay những trụ sở hành chính khuôn mẫu chính là đại diện tiêu biểu cho một thời kỳ kiến trúc đầy nỗ lực nhưng còn nhiều hạn chế về nguồn lực.
Sự thay đổi diện mạo kiến trúc đô thị sau năm 1986 không phải ngẫu nhiên mà là kết quả của một hệ thống nghị quyết chiến lược của Đảng về phát triển văn hóa. Đảng đã xác định kiến trúc không chỉ là xây dựng cơ bản mà là một trong những thành tố quan trọng của văn hóa dân tộc.
Thông qua Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16-7-1998 tại Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Đảng đã khẳng định xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết xác định văn hóa là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển. Điều này giúp kiến trúc sư nhận thức rõ vai trò của việc giữ gìn bản sắc trong quá trình hiện đại hóa.
 |
| Trụ sở Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) đoạt giải vàng Giải thưởng Kiến trúc quốc gia 2022-2023. Ảnh: PHONG LINH |
10 năm sau đó, với Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16-6-2008, Bộ Chính trị nhấn mạnh việc tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. Kiến trúc được công nhận là một ngành nghệ thuật quan trọng phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi sự bứt phá về thẩm mỹ để đáp ứng nhu cầu đa dạng của nhân dân.
Theo Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã đặt ra yêu cầu xây dựng văn hóa gắn liền với phát triển bền vững đất nước. Kiến trúc không chỉ đẹp mà còn phải hài hòa với môi trường, lấy con người làm trọng tâm, thu hẹp khoảng cách thụ hưởng văn hóa giữa các khu vực.
Sự chỉ đạo sát sao này đã tạo ra một môi trường pháp lý và tinh thần thông thoáng, cho phép kiến trúc thoát khỏi những định kiến cũ để vươn mình ra thế giới.
Xã hội hóa và hội nhập quốc tế của kiến trúc Việt Nam
Tiến trình đổi mới của Đảng đã mang đến hai sự thay đổi căn bản trong phương thức tạo dựng kiến trúc kể từ năm 1986.
Thứ nhất là xã hội hóa các nguồn lực phát triển kiến trúc. Bên cạnh các dự án đầu tư công, Đảng và Nhà nước khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia đầu tư vào kiến trúc và phát triển đô thị. Điều này đã tạo ra một cuộc cạnh tranh khốc liệt nhưng đầy tích cực trong sáng tạo kiến trúc. Các chủ đầu tư tư nhân, với mong muốn thu hút người dùng và khẳng định vị thế, đã đầu tư nhiều nguồn lực quan trọng trong thiết kế, áp dụng những công nghệ mới trong xây dựng. Kết quả là nhiều khu đô thị mới hiện đại, chất lượng hay các tổ hợp kiến trúc phức hợp, tiện nghi đã ra đời, nâng tầm chất lượng sống của cư dân lên một đẳng cấp mới.
Thứ hai là hội nhập quốc tế sâu rộng. Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của đổi mới là việc khuyến khích nguồn lực nước ngoài. Nhiều công trình kiến trúc lớn hiện nay có vốn đầu tư nước ngoài, do các tổ chức tư vấn thiết kế quốc tế thực hiện hoặc tuân thủ các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của thế giới. Đặc biệt, sự thay đổi này còn nằm ở việc Đảng và Nhà nước tin tưởng giao phó các công trình mang tính biểu tượng quốc gia-những thể loại trước đây chỉ dành cho các đơn vị xây dựng trong nước-cho các tổ chức tư vấn nước ngoài hoặc liên danh. Những công trình này đã trở thành bộ mặt mới, hiện đại của đất nước, chẳng hạn như Nhà Quốc hội với sự kết hợp tinh tế giữa hình ảnh “trời tròn, đất vuông” truyền thống và công nghệ kính, ánh sáng hiện đại; hay Trung tâm Hội nghị Quốc gia như một biểu tượng của sự sang trọng và quy mô, sẵn sàng cho các sự kiện tầm cỡ quốc tế và gần đây nhất là Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam-một công trình mang ngôn ngữ kiến trúc đương đại mạnh mẽ, kể lại câu chuyện hào hùng của dân tộc bằng một tư duy thẩm mỹ mới.
Câu chuyện về chuyển đổi số và bản sắc
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những vận hội chưa từng có. Từ một nước nghèo, chúng ta đã gia nhập nhóm quốc gia có thu nhập trung bình và đang tiến nhanh tới mục tiêu thu nhập khá. Trong bối cảnh đó, kiến trúc không chỉ là nơi để ở, để làm việc mà còn là không gian của tri thức và công nghệ.
Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cùng quá trình chuyển đổi số đang thẩm thấu vào mọi ngóc ngách của ngành kiến trúc. Diện mạo kiến trúc đô thị tương lai sẽ không chỉ được đánh giá qua vẻ ngoài mà còn qua “trí thông minh” của công trình như khả năng tiết kiệm năng lượng, thân thiện với môi trường, tối ưu hóa trải nghiệm người dùng thông qua kết nối vạn vật... Tuy nhiên, thách thức và cũng là hướng đi của kiến trúc Việt Nam trong kỷ nguyên mới chính là sự cân bằng giữa hiện đại và bản sắc. Những công trình hiện đại, hội nhập quốc tế nhưng vẫn giữ được tinh thần, tâm hồn và bản sắc văn hóa dân tộc sẽ là hình ảnh đại diện cho Việt Nam tương lai. Đó là một nền kiến trúc không sao chép máy móc mà là sự chắt lọc tinh hoa truyền thống và tái hiện bằng ngôn ngữ của tương lai.
Nhìn lại hành trình 40 năm, từ đường lối đổi mới năm 1986 do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đến nay, chúng ta có quyền tự hào về những gì kiến trúc đô thị Việt Nam đã đạt được. Kiến trúc đã thực sự trở thành một trong những động lực và mục tiêu của phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong kỷ nguyên phát triển mới, với sự hỗ trợ của công nghệ và lòng tự hào dân tộc, kiến trúc Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục viết nên những trang sử mới, tạo dựng nên những không gian sống hạnh phúc, bền vững, khẳng định vị thế và bản sắc của một Việt Nam đang vươn mình mạnh mẽ trên trường quốc tế.