Dạo quanh một vòng đền, bao câu chuyện xưa như những lớp sóng dội về ký ức. Tôi bước ra khỏi cổng tam quan, khu phố Thượng với những căn nhà khang trang, sạch đẹp. Bà chủ quán Nguyễn Thị Tâm tươi cười chào đón khách mà tay vẫn thoăn thoắt gói bánh. Là khách nơi xa đến, từng nghe về loại bánh của vùng đất này, tôi háo hức gợi chuyện để hiểu cho rõ hơn. Bà đon đả tiếp lời: “Đặc sản của đất Đình Bảng đấy cháu à! Nhà nào quanh Đền Đô cũng biết làm loại bánh này để phục vụ du khách tham quan”.

Thế rồi bà Tâm kể rằng, các cụ trong vùng vẫn truyền lại câu chuyện xưa khi vua Lý Anh Tông xuất chinh, hoàng hậu đã vào bếp tự tay làm món bánh gửi theo vua đi đánh trận. Thưởng thức xong, vua rất cảm động trước tấm lòng của người vợ thảo hiền, coi đây là món bánh gắn kết tình nghĩa vợ chồng gửi gắm trong đó, dẫu có đi xa vẫn luôn nhớ về nhau. Chính vì vậy vua đã đặt tên bánh là phu thê và truyền lệnh cho nhân dân nơi quê cha đất tổ làm món bánh này.

Bà Nguyễn Thị Tâm gói bánh phu thê phục vụ du khách.

Một câu chuyện thật cảm động ẩn chứa trong những chiếc bánh nhỏ xinh. Mới trông bề ngoài có vẻ đơn giản nhưng khi hỏi ra tôi mới biết thứ bánh dâng vua cũng kỳ công, tinh tế lắm. Người Đình Bảng trồng nhiều cây dành dành nở hoa màu trắng ngà. Vào mùa hoa, người dân quê hái về đun nước để ngâm những hạt nếp cái hoa vàng căng tròn mẩy. Gạo bở thì mang ra máy xay, thứ nước bột sóng sánh tiếp tục được đổ vào trong vại to ngâm cho lắng lại. Thường thì 1 cân gạo nếp chỉ lấy được 3 lạng tinh bột. Bột mềm mịn để khô mới đem ra làm bánh. Hiện nay do công đoạn làm bột khá vất vả, lại phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu hoa dành dành nên có những gia đình chuyên làm bột phục vụ nhu cầu gói bánh của bà con.

Nhân bánh có vị bùi thơm tự nhiên là do bàn tay khéo léo của các bà, các chị. Đậu xanh vàng ươm được đồ chín, giã mịn rồi xào với đường cát trắng. Thêm vào trong đó một chút đu đủ xanh nạo sợi, vài cọng dừa trắng tinh. Tất cả được đảo đều trên bếp lửa liu riu đến khi quện lại mới đem nặn thành từng viên nhỏ. Bột gạo nếp dàn ra cho vào giữa một chút nhân rồi gói ghém lại trong mảnh lá chuối xanh ngăn ngắt, bên ngoài là lớp áo lá dong. Chõ đồ bánh được bắc lên, lửa đỏ bập bùng, khói tỏa mùi thơm ngào ngạt.

Mới dỡ mẻ bánh ra, bà Tâm cẩn thận gói thêm chiếc lá dong tươi bên ngoài. Bao năm làm bánh, bà Tâm càng cảm phục sự tinh tế của người xưa muốn gửi gắm vào chiếc bánh đơn sơ nhiều hàm ý sâu xa. Bà bảo: “Màu vàng của bánh thể hiện tình yêu thương, từng lớp lá đan xen mang ý nghĩa của sự bao bọc chở che. Đặc biệt, bánh bao giờ cũng được buộc vào nhau thành một cặp bằng sợi lạt hồng điều như dây tơ hồng gắn kết vợ chồng”.

Nghe thêm lời giải thích đầy ẩn ý của bà chủ quán, khách ngồi trước sạp hàng lại càng muốn thưởng thức món đặc sản của vùng đất này. Khẽ bóc lớp lá, miếng bánh chín tới màu vàng tươi như bông hoa mướp đầu hè. Khi thưởng thức, vỏ bánh mềm dai thoang thoảng mùi hoa dành dành. Nhân bánh vị ngọt thanh, thơm hương của đỗ xanh, dừa nếp cốt. Bánh ngon, đẹp mắt, không chút phụ gia phẩm màu. Tất cả những nguyên liệu tự nhiên của mảnh đất Kinh Bắc đậm đà khúc hát giao duyên đã kết tinh nên món quà quê thắm đượm nghĩa tình. Chẳng thế mà những chiếc bánh nhỏ nhắn xinh xắn nơi đây luôn là lễ vật trong ngày vui hạnh phúc như lời chúc cho vợ chồng mãi thủy chung son sắt trăm năm.

Bài và ảnh: NGỌC NAM