Về mặt nhận thức, chúng ta đều biết Mai An Tiêm sống vào thời huyền sử Hùng Vương, thời của Lạc Long Quân (vua Rồng của bộ tộc Lạc) và Âu Cơ (cô gái đẹp của bộ tộc Âu), tức là thời kỳ của liên minh bộ tộc Âu-Lạc.
Điều đó cho ta thấy việc sáp nhập bộ tộc/bộ lạc thời vua Hùng là thông qua giao hiếu, tự nguyện, khác với việc sáp nhập bộ lạc ở nhiều nơi khác (phải thông qua chiến tranh thôn tính, cưỡng bức). Điều đó cũng cho thấy, ngay từ thời huyền sử, tinh thần hợp quần đã trở thành động lực xây dựng và bảo vệ đất nước, gắn bó với nhân dân Việt Nam đến tận bây giờ thể hiện qua truyền thống đoàn kết toàn dân tộc.
Mặc dầu, thời đó, tổ tiên ta đã biết dùng nông cụ chế tác bằng đồng, sắt song năng suất lao động vẫn còn rất thấp, cho nên con người sợ hãi những thay đổi về mặt công cụ và tập quán sản xuất. Đó là điều tất yếu của đời sống nhân loại. Ngay ở Trung Quốc, nơi có nền văn minh rất sớm, mà sau thời vua Hùng, Khổng Tử vẫn kêu gọi “tuần nhi bất tác” (làm theo người trước mà không cần sáng tạo”). Lão Tử cũng hô hào: “qui chân phản phúc” (trở lại sống theo thiên chân và quay về chất phác, ý nói nên sống theo tự nhiên).
Thời đó, ở nhiều nơi trên thế giới, người cầm đầu một đất nước thường được chọn thông qua hình thức dân chủ quân sự thì ở ta, việc lựa chọn thủ lĩnh lại thông qua dân chủ văn hóa, chứng cớ là vào thời Hùng Hoa vương Pháp Hải, Lang Liêu làm nên bánh chưng, bánh dày, tượng trưng cho trời, đất, cây cỏ và trăm loài sinh vật trên đất nước, những cái bánh mang ý nghĩa văn hóa, hợp quần, thống nhất, cho nên ông quan lang ấy đã lọt vào ngôi vị lãnh đạo non sông mười lăm bộ.
Tuy nhiên, đời sống vật chất thời đó còn rất thiếu thốn, ông Chử Đồng Tử không có quần áo để mặc theo như quan niệm sau này, công chúa Tiên Dung chắc cũng chỉ khoác lên mình thứ gì đó đủ che một vài chỗ cần che.
Vì vậy, con người chỉ còn một niềm tin vững chãi vào sự xếp đặt của Thượng Đế. Hàng năm, vua Hùng lập đàn tạ ơn trời đất đã cho lúa tốt đủ no và cầu đảo trừ tai dị giúp dân ở yên, sống khỏe. Theo sách Lĩnh Nam chích quái thì chính các vua Hùng cũng là các nhà pháp thuật, thay quyền thượng đế trừ Khử Mộc tinh và Thủy tinh.
Mai An Tiêm, theo truyền thuyết, đã sinh ra và sống trong bối cảnh lịch sử đó.
Sống vào thời vua tôi hợp quần, trên dưới hòa mục, dân chủ văn hóa như vậy, không thể có chuyện xô chen, tranh cướp ngôi vua, dùng rượu độc hại nhau như vở đã diễn ra mà ở vở đó, chúng ta lại được nghe những câu đối thoại, được nhìn những bộ trang phục mà không biết ở thời đại nào (có lẽ lời nói và quần áo của vở đó đặt vào những vở viết vào thời Lý Trần hoặc Lê Nguyễn về sau cũng được).
Cái yếu nhất về mặt phát hiện, phản ánh-và giá trị thuyết phục của vở là không góp phần đem lại một hiểu biết lịch sử đúng đắn về thời kỳ lịch sử đó cho khán giả. Nói khác đi là tác phẩm nghệ thuật chèo không đạt được chức năng nhận thức, một trong các chức năng mà Đảng yêu cầu những người làm nghệ thuật phải đạt tới.
Vậy thì vì sao Mai An Tiêm bị đuổi ra khỏi cộng đồng; một hình thức xử phạt nặng nhất đối với các thành viên công xã cổ đại. Lý do là tại ông dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới tư duy trái với ý của vua cha và của cộng đồng.
Tuy tác giả Hàn Thế Du không còn nữa song lời trò mang ý tứ tìm tòi, cải tiến công cụ và lối sống vẫn còn đó:
… Không có thứ này, dùng thứ
khác
Không dao, dùng đá, dụng công
mài…
Tác giả còn cười nhạo phe bảo thủ:
Chỉ buộc chân voi chuyện nực
cười…
Đúng như truyền thuyết kể rằng An Tiêm khuyên vua “Không nên quá mải mê vào cầu cúng thần linh mà phải tự tìm lấy phương kế cho cộng đồng” (Hùng Vương và lễ hội đền Hùng. Tr.45).
Về mặt cấu trúc kịch bản, mở màn, khán giả chứng kiến ngay một màn múa hát, na ná như nhiều vở khác (chẳng hạn như Nữ Tú tài, cũng đã được truyền hình trực tiếp). Sau đó là ít câu tranh cãi ngoài đầu lưỡi, không mấy thuyết phục và gièm pha nhau trong cuộc đua tranh giành ngôi báu tương lai.
Sau khi An Tiêm ra đảo, khán giả chờ đợi xem quá trình lao động mà ông đã nói “không có thứ này dùng thứ khác” ra sao, nhưng chỉ thấy kết quả là có một rừng dưa bạt ngàn. Xem sân khấu mà chỉ thấy kết quả mà không thấy quá trình, tức không thấy con đường dẫn đến kết quả thì thật đáng buồn.
Theo sách Hùng Vương và lễ hội đền Hùng thì ít nhất vợ chồng Mai An Tiêm đã từng phải nhịn đói “đào lấy giếng nước ngọt mà ăn, săn chồn thú mà sống, rất cực khổ (…). Chàng vẫn sống và gắng làm những điều mình đã tâu với đức vua”… Tại sao những điều đó không được diễn tả thành quá trình dám nghĩ, dám làm của Mai An Tiêm?
Chính vì vậy, những tình tiết và mảng ca hát có nhiều chỗ không có sức thuyết phục và không tạo nên xúc động trong lòng khán giả. Chẳng hạn những lớp cãi lý ở phần trên, lớp hai tên lính gánh rượu và lớp vua cha gặp lại con ở phần hai…
Tất nhiên, đạo diễn, tác giả thứ hai của vở, có quyền sáng tạo, nhưng không thể làm sai lịch sử hay ít nhất bóp méo lịch sử, bởi vì họ có chức năng truyền đạt nhận thức đúng đắn về lịch sử cho người xem.
Mặt khác, sân khấu là nghệ thuật Nghe-nhìn, nghe đã không hợp cảnh, hợp tình, nghe không vui tai, nhìn không sướng mắt, gộp lại không làm khán giả cảm động, không cười được, không khóc được thì đạo diễn đem đến cho khán giả cái gì?
Điều đáng tiếc là dàn diễn viên của Phú Thọ thật đồng đều, đủ khả năng làm những vở lớn.
Sân khấu là thánh đường đâu phải chỉ là sân chơi của đạo diễn.
NHẬT TẢO