Người làng kể rằng: Xưa bà nội tôi đẹp nhất vùng Ngò Thượng, Ngò Hạ quê tôi. Da trắng, tóc dài, răng đen rức đều tăm tắp. Bà hát bội rất hay, Truyện Kiều, Trương Viên, Lưu Bình-Dương Lễ… bà thuộc lòng không thiếu một câu. Bà thường đóng vai Thúy Kiều, Châu Long… những vai đẹp người, đẹp nết. Người "phải lòng" bà tôi nhiều vô kể, nhưng thương ông tôi nhà nghèo lại thật thà, chịu thương, chịu khó bà tôi nhận lời về làm vợ. Tám lần sinh nở, bỏ đi một nửa. Bác gái cả lớn lên lấy chồng xã khác, bác gái thứ hai lập gia đình sinh được một cậu con trai, rồi ốm thập tử nhất sinh, nhà chồng đem bỏ ở chái nhà chờ chết, ông nội tôi thương con bảo bố tôi và chú khiêng về nhà "nhỡ có chết còn có cha mẹ, anh em!". Cũng may dạo đó ở quê tôi cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc ở rất đông. Một người cán bộ quê ở Khánh Hòa đã lặn lội lên tận Sơn La tìm mua thuốc về chữa bệnh cho bác gái tôi rồi sau này hai người trở thành vợ chồng… Cuộc sống tuy vất vả, khó khăn nhưng bà tôi luôn sống vui vẻ, lạc quan, là cán bộ hội phụ nữ bà tôi tham gia phụ trách đoàn dân công gánh gạo, đem lời ca tiếng hát của mình phục vụ bộ đội đánh giặc trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Kháng chiến chống Mỹ bà nuôi cán bộ miền Nam tập kết, học sinh trường Nguyễn Thượng Hiền, giúp đỡ đồng bào Quảng Bình vào sơ tán…

Mẹ có mang tôi vào những ngày chiến tranh chống Mỹ ác liệt. Là thanh niên xung phong, suốt ngày san đường lấp hố bom, làm cầu, làm phà… ăn uống kham khổ, tôi sinh ra "dài ngoằng, bé tí tẹo nhăn nheo những lông là lông" (mẹ tôi bảo thế). Bế tôi được một tháng ông nội đột ngột qua đời. Chiến tranh đàn ông đi vắng hết. Gia đình tôi còn rặt đàn bà. Mắt bà tôi lúc đầu nhìn không rõ sau thì bị lòa đi phải chống gậy. Mẹ tôi trở về quê gánh vác công việc nhà chồng, lặn lội, vất vả quanh năm. Sáng bước thấp bước cao đi từ gà gáy, chiều mới đáo về nhà cơm nước qua loa rồi lại tất tả quảy gánh ra đồng. Việc nhà cơm nước, tắm giặt bà tôi sờ soạng đảm nhiệm hết. Tôi hai tuổi mẹ sinh em trai, chị còi cọc, em khóc "dạ đề" ngằn ngặt, suốt đêm hết tay mẹ sang tay bà. Những hôm mẹ bận đi làm khát sữa cả hai chị em đều ngậm vú bà cho đỡ đói… Em trai tôi hai tuổi, thím sinh em đầu lòng, bà đảm nhiệm nuôi cả ba, khi qua nhà này, lúc đáo nhà kia. Rồi mẹ sinh, thím sinh cả thảy mười đứa! Không đứa nào không qua tay bà chăm bẵm. Ăn có giờ, ngủ có giờ, chẳng có đứa nào "tè dầm" ra người bà cả vì bà biết cách căn giờ hoặc đoán biết "con trai thì thấy "chim" săn", con gái thì cứ nong người lên mà khóc, ắt là sắp có chuyện…" (bà bảo vậy). Đứa bé bà ru, đứa lớn kể chuyện cho nghe.

Đêm nào chị em chúng tôi cũng tranh nhau ngủ, tranh nhau "sờ tí bà" rồi rúc rích cười "tí bà to hơn tí mẹ cháu…". Những lúc như vậy bà cười hiền "cha chúng bay". Tôi gầy guộc, tóc cứng như rễ tre, chấy nhiều vô kể nên thường được bà ưu tiên nằm cạnh để đêm bà còn sờ lần bắt chấy cho… Là chị cả việc gì cũng đến tay, khi thì trông em, lúc thì thổi cơm giúp bà, lớn lên đỡ đần việc đồng áng cho mẹ… vất vả nhất, nhưng cũng nghịch nhất: Trèo cây, bơi lội thậm chí cả đánh nhau với bọn con trai cũng có… Cha tôi là người dữ đòn nên tôi bị ăn đòn là chuyện thường xuyên. Mỗi khi bị đòn tôi chỉ mong có bà ở nhà để còn được bà "bênh", mà bà tôi bênh khéo lắm! Khi cha tôi đi kiếm roi, bà quát tôi: "Lên giường nằm ngay đi, cha hỏi phải trả lời thành khẩn rồi xin lỗi sẽ nhẹ đòn!", lúc cha về bà lại quát: "Đánh cho thật đau vào, lần sau khắc chừa!", nhưng khi cha vụt đến roi thứ hai thì bà chạy ra quờ quạng giữ lấy roi: "Con nó xin lỗi rồi, tha cho nó, còn mấy roi cho nợ lần sau…", lúc chỉ còn lại hai bà cháu bà răn: "Ngoan ngoãn mới thành người, bà thấy tội hôm nay là to lắm đấy, may mà bà xin cho lần sau còn như thế bà bảo cha đánh thêm…". Đi chơi ở đâu về, ai cho bất kỳ quà gì dù nhiều hay ít bà đều đút túi mang về chia: "Mi lớn nhường em ăn ít hơn". Bà hát đã hay, khóc đám ma cũng "hay". Mỗi khi làng tôi có người mất bà bảo chúng tôi dắt đến, vừa đến cổng nhà có đám, nước từ hai hốc mắt của bà cứ thế trào ra, rồi bà khóc: "Ối anh ơi (ối chị ơi)…" có bài, có bản hẳn hoi nghe thương lắm! Về đến nhà chị em chúng tôi xúm lại trêu bà, bà mắng: "Cha chúng bay, đám ma mà không có người khóc thì buồn lắm, bà khóc để người chết được vui"!… Cái Lại con nhà thím tôi ngây ngô nói: "Bà ơi cháu thương bà lắm, bà đừng chết nhé, nếu bà chết cháu sẽ lăn từ bờ sông về khóc bà đấy!…" (nó hay chơi ở bờ sông).

Năm tháng qua đi, chúng tôi dần khôn lớn, chẳng đứa nào được đẹp như bà nhưng tất thảy đều chăm ngoan, hiếu thảo, bà ngày một già hơn, tóc bạc trắng trông "như bà tiên" (tôi thường ngắm bà và bảo thế)… Trước ngày tôi nhập ngũ, bà gọi đến gần đưa tay sờ, nắn "cao lêu đêu thế này, gầy như thế này chả biết… thôi cố gắng lên con nhé, bà chờ con!…". Tôi xa nhà, vụng dại, bồng bột, chuyện huấn luyện vất vả nhưng vui, ăn uống kham khổ (gạo miền Nam độn sắn gạc nai…) nhưng vẫn "lên cân" tôi đem kể hết trong thư. Mẹ tôi đọc, bà tôi ngồi nghe hết cười rồi khóc: "Biết ngay mà, nó là đứa có chí, thể nào rồi cũng nên người…". Đêm đêm bà không ngủ được vì nhớ thương tôi, bà gầy và yếu đi nhiều… nhưng thư cho tôi bà dặn mẹ "đừng bảo bà yếu, cả nhà đều khỏe cả để nó yên tâm công tác"… Hết ba tháng huấn luyện, tôi được thưởng phép về quê (tôi bắn đạt giỏi), lận đận tàu xe mang theo bông hoa điểm 10 được tặng hôm bắn đạn thật để khoe bà, về đến đầu ngõ mẹ sấp ngửa chạy ra sụt sùi: "Con ơi bà đang đợi con về…" chạy đến bên giường, tôi nắm chặt tay bà lay gọi: "Bà ơi!…" bà không còn nói được nữa, ở bên bà một tối, sáng hôm sau bà về cõi tiên. "Hô hô, hi hi… mẹ ơi, bà ơi…" bác gái tôi, mẹ tôi, thím tôi và cả chúng tôi nữa xúm lại quanh bà, chẳng ai biết khóc "hay" được như bà để mà khóc cho bà "vui!"…

Cái tuổi binh nhì của tôi đã qua đi cách đây nhiều năm rồi, cũng bấy nhiêu thời gian tôi vĩnh viễn xa bà. Quãng đời quân ngũ có biết bao kỷ niệm vui, buồn đáng nhớ, nhưng những kỷ niệm về người bà thân yêu cứ khắc khoải, hiện hữu theo tôi suốt cuộc đời mình…

NGUYỄN THỊ KHÁNH