Tôi vừa có bài "Gọi tên mấy căn bệnh phê bình hôm nay" gởi báo Văn nghệ điểm danh và phân tích cặn kẽ căn bệnh. Bài khá dài, nay xin tạm kê ra trước căn bệnh, và một biểu hiện nhỏ (nhỏ thôi) của một trong những sự phong phú đa dạng của các căn bệnh kia. 9 căn bệnh là:

- Phê bình độn giai thoại, biểu hiện rõ trong bài phê bình ở đó người đọc đọc phải bao nhiêu là chuyện kể nhảm nhí thay vì chính tác phẩm là đối tượng đang được phê bình.

- Phê bình bình và tán, không trên nền tảng mĩ học nào. Thơ chỉ có thể cảm, chứ không nên dùng sự hiểu mà phân tích nó-là tuyên ngôn ưa dùng của nhà phê bình này. Nên ai cũng có thể nhảy ra viết phê bình được.

- Phê bình chung chung, vô thưởng vô phạt. Các lời lẽ nhận định có thể áp dụng cho mọi nhà, mọi tập, mà vẫn không trật!

- Phê bình hũ nút là loại phê bình bám trụ nền tảng mĩ học đã được thời gian thẩm định và lưu kho.

- Phê bình núp bóng, núp bóng đủ loại thế lực: Quần chúng hay nhân dân, truyền thống và đạo đức, danh nhân văn chương với các tác phẩm vĩ đại. Nó còn có biệt danh khác là phê bình nhân danh.

- Phê bình bè phái, biểu hiện ở cả khen tụng hoặc chê bai. Khi hai "luồng" này đụng độ nhau kéo theo trận cãi cọ nào đó, thì phe ai người nấy theo.

- Phê bình quan phương. Là thứ phê bình hãnh tiến của kẻ đang nắm chặt chân lý trong tay, phê bình trong tư thế ta luôn luôn đúng, bao giờ và ở đâu cũng ăn nói ở thế thắng. Phê bình này rất ưa giáo huấn, dạy dỗ.

- Phê bình hàng hai, luôn nói theo vì đang kỳ ăn theo, nói theo để còn ăn theo lâu dài hơn ở thì tương lai.

- Cuối cùng là phê bình không cần học, không cần biết người thiên hạ ngoài đã đi đến đâu, cũng không cần đọc để biết văn đàn hôm nay có những tên tuổi nào mới. Cứ vài tác giả cũ hót lại, từ bài báo này sang bài phê bình khác. Muôn năm!

Bài "phê bình": "Thơ có vần liệu đã lỗi thời" in trên tạp chí Thơ số cuối năm 2007 thể hiện phần nào được căn bệnh cuối vừa nêu. Nếu chỉ vài dòng cảm nhận thôi thì không sao, đằng này bệnh lây lan hết bốn trang của tạp chí chuyên của Hội Nhà văn mới phiền. Thử lẩy ra mấy điểm:

- "Dân tộc ta (mà có lẽ không chỉ riêng dân tộc ta" đã giao tiếp bằng lối nói có vần. Đây có thể là phát minh vĩ đại về ngôn ngữ của dân tộc Việt". Nếu "không chỉ riêng" dân tộc Việt thì đâu có gì đáng nói; còn nếu nó "là phát minh vĩ đại về ngôn ngữ của dân tộc Việt", thì đích thị là phát ngôn đầy cảm tính rồi.

- Lục bát, song thất lục bát... là "bản sắc độc đáo riêng của người Việt ta". Có riêng một cõi đâu mô! Lối gieo vần kiểu lục bát, song thất lục bát là truyền thống chung Đông Nam Á chứ đâu riêng gì Việt. Ngôn ngữ mỗi dân tộc có cấu trúc mỗi khác (đa âm/đơn âm tiết là một trong những) từ đó cô nàng lục bát có lối đi yểu điệu thục nữ mỗi lúc mỗi nơi mỗi khác, thế thôi! Lục bát Chăm cũng vậy, so với Việt đã có sự sai lệch nhất định.

- “Thơ không vần,… đã có từ những năm bốn mươi của thế kỷ trước… Từ đó đến nay không ai ngăn cấm, song nào đã được mấy tiến bộ?”. Thế là ông đang tự đóng cửa rồi. Sự đóng cửa này còn được ông lèn thêm cái khóa là: “Chưa thấy sự tổng kết, đánh giá của các nhà phê bình có tên tuổi để vạch cái hay cái dở của loại thơ vừa nói”. Ông thử vào trang Google, mênh mông cả mấy chục tác giả thơ tự do không vần xuất sắc được tổng kết, đánh giá.

- Ông đã không nhìn nhận hiện thực lù lù: “Mặc dầu được báo chí cổ súy và đăng tải tràn lan…”. Lạ, thử giở bất kỳ số nào của tờ Văn nghệ, lượng thơ vần và biến thái thơ vần cứ là ở thế vượt trội! (xem thêm: Inrasara, “Để thơ đến với bạn đọc: Vần hay không vần”, Tạp chí Văn nghệ Vũng Tàu, số 71, 10-2004; Báo Quân đội nhân dân, 06-07-2007). Rồi “gần hai chục năm nay, người đọc vẫn đang chờ sự tỏa sáng của loại thơ này”. Thơ tự do không vần tỏa sáng nửa thế kỷ rồi sao lại phải mãi chờ đến hôm nay? Và nhiều thứ khác nữa.

Nghĩa là tất tần tật đều… sai.

Tô Thùy Yên: “Thơ tự do, cũng như thơ mới trước kia, ra đời vì sự thay đổi của hồn thơ, chớ không phải chỉ đơn thuần là sự thay đổi của luật thơ”. Phê bình thơ trẻ hôm nay, Nguyễn Thanh Sơn có cùng nhận định: “Cái chính là, một tinh thần mới cho thơ, các nhà thơ trẻ lại chưa có”. Như vậy, “sự thay đổi hồn thơ” hay “một tinh thần mới cho thơ” có vai trò quyết định cái hay và cái mới lớn của thơ, chứ không phải vần hay luật tắc của một thể thơ nào đó, từ lục bát, tám chữ, Thơ mới phá thể hay cả thơ Tự do. Vần, nguy cơ đánh lừa người đọc dễ tính rằng như thế mới là thơ. Nhà thơ dễ làm vần. Chẳng đổ giọt mồ hôi mồ kê chi cả nhưng chúng ta vẫn “hoàn thành” một bài thơ có vần: Ta quay lại tự đánh lừa. Và thơ cứ dậm chân tại chỗ!

Vần hay không vần, không hề gì cả, quan trọng là tinh thần mới. Tinh thần mới đặt trên nền đất vững chắc của văn hóa, của suy tư nền tảng qua tiếp nhận luồng gió từ trăm phương thổi tới bằng nhạy cảm bắt nhịp cuộc sống hiện đại. Làm thành nhịp điệu của tâm hồn thi sĩ. Chính nhịp điệu này quyết định vần hay không vần của một bài thơ, thậm chí một đoạn/câu thơ. Nhịp điệu tùy thuộc vào “miền dao động và rung động” (từ dùng của nhà thơ Đỗ Quyên) của kẻ sáng tạo.

Inrasara