Đại tướng Võ Nguyên Giáp từng khẳng định, Văn Tiến Dũng là “một vị tướng có tinh thần quyết thắng lớn và tài thao lược xuất chúng, một người cộng sản kiên cường, bất khuất đã cống hiến cả cuộc đời cho lý tưởng của Đảng, cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

Đại tướng Văn Tiến Dũng sinh ngày 2-5-1917 tại xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm (nay là quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội). Ông có bí danh là Lê Hoài. Mồ côi cha mẹ từ nhỏ, tận mắt chứng kiến cuộc sống cơ cực, lầm than của đồng bào, tội ác của thực dân, đế quốc và tay sai, ông đã sớm giác ngộ, đi theo con đường của Đảng và để lại nhiều dấu ấn trên con đường hoạt động cách mạng.

Năm 1936, Đại tướng Văn Tiến Dũng tham gia phong trào đấu tranh của công nhân và tham gia tổ chức cuộc bãi công của công nhân dệt Hà Nội. Hai năm sau, ông trở thành Bí thư Chi bộ ngành thợ dệt Hà Nội.

leftcenterrightdel
 Đại tướng Văn Tiến Dũng. Ảnh tư liệu.

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã ba lần bị địch bắt, tra tấn, buộc tội “làm Việt Minh” và bị giam cầm ở Nhà tù Hỏa Lò, Nhà tù Sơn La. Tháng 7-1939, đồng chí bị thực dân Pháp bắt giam, song vì không có chứng cứ, sau ba ngày, chúng buộc phải trả tự do. Ra hoạt động công khai giữa lòng địch, hai tháng sau (cuối tháng 9-1939), đồng chí bị bắt lần thứ hai và bị kết án hai năm tù. Tháng 9-1941, trên đường bị địch áp giải từ nhà tù Sơn La về Hà Nội để đưa vào trại tập trung, đồng chí đã trốn thoát. Từ tháng 3-1943, đồng chí bắt được liên lạc với Đảng, sau đó tham gia hoạt động và được chỉ định làm Bí thư Ban Cán sự Đảng tỉnh Hà Đông, Bí thư Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh.

Tháng 4-1944, đồng chí được cử làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ; tháng 8-1944 bị địch bắt lần thứ 3, tháng 12-1944 vượt ngục ra tiếp tục hoạt động. Ngày 12-1-1945, đồng chí bị chính quyền thực dân Pháp kết án tử hình vắng mặt tại tòa án tỉnh Bắc Ninh.

Từ tháng 4-1945, đồng chí là Ủy viên Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ, được phân công phụ trách việc tổ chức và giữ chức vụ Bí thư Khu ủy Chiến khu Quang Trung. Tháng 8-1945, ông chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở các tỉnh Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa.

Từ tháng 11-1945 đến 1946,  đồng chí là Ủy viên Quân ủy Trung ương, chỉ đạo chiến đấu chống Pháp ở khu “Nam Tiến” và khu vực từ Vân Nam (Trung Quốc) đến Sầm Nưa (Lào), chỉ huy lực lượng tiến công vào Lai Châu, Sơn La. Ông là Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Cục trưởng Cục Chính trị Quân đội Quốc gia Việt Nam – Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam từ tháng 2-1947 đến 10-1949.

Năm 1948,  đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng.

Từ tháng 10-1949, ông là Chính ủy Liên khu 3. Năm 1951-1953,  đồng chí là Đại đoàn trưởng kiêm Chính ủy đầu tiên của Đại đoàn 320 (Đại đoàn Đồng Bằng) hoạt động trong vùng địch kiểm soát ở đồng bằng Bắc Bộ.

Từ tháng 11-1953, ông giữ chức Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam. Tháng 7-1954, ông là Trưởng đoàn đại diện Bộ Tổng tư lệnh QĐND Việt Nam tại Hội nghị Trung Giã (từ 27-7-1954 chuyển thành Ủy ban Liên hợp đình chiến Trung ương), và tiếp tục giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng đến tháng 5-1978.

leftcenterrightdel
Đại tướng Văn Tiến Dũng điện báo tin chiến thắng Tây Nguyên tháng 3-1975. Ảnh tư liệu 

Đồng chí Văn Tiến Dũng được thăng vượt cấp quân hàm Thượng tướng năm 1959, Đại tướng năm 1974.

Trong kháng chiến chống Mỹ, trên cương vị Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Đại tướng Văn Tiến Dũng đã cùng Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng tư lệnh chỉ đạo trực tiếp việc tổ chức huấn luyện xây dựng lực lượng vũ trang, đặc biệt đã xây dựng và chỉ đạo các lực lượng phòng không - không quân, hải quân làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của không quân, hải quân Mỹ ra miền Bắc.

Với chiến trường miền Nam, ông được giao trực tiếp chỉ đạo nhiều chiến dịch có ý nghĩa quan trọng làm thay đổi cục diện chiến trường như Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào (30-12-1970 đến 3-3-1971), đánh bại cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân đội Sài Gòn được Mỹ yểm trợ; Chiến dịch Trị - Thiên (3-1972) tiêu diệt Sư đoàn 3 cùng toàn bộ hệ thống phòng ngự của ngụy quân Sài Gòn, giải phóng tỉnh Quảng Trị; Chiến dịch Tây Nguyên (1975) mở đầu cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975.

Tháng 4-1975, là Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh, Văn Tiến Dũng đã chỉ đạo những cách đánh táo bạo, thọc sâu, kết hợp vu hồi, đột phá, tạo và nắm thời cơ, chủ động tiến công, giải phóng Sài Gòn - Gia Định, đầu não của ngụy quyền Sài Gòn, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

Từ 1980-1986, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Đại tướng Văn Tiến Dũng mất ngày 17-3-2002, hưởng thọ 85 tuổi.

Đại tướng Văn Tiến Dũng là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khoá III đến khoá VI (Ủy viên dự khuyết khóa II), Ủy viên Bộ Chính trị khóa IV, V (dự khuyết khóa III). Từ tháng 5-1978, ông là Phó bí thư Thứ nhất, Bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (1984-1986). Ông là đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VII.

Với những cống hiến cho sự nghiệp cách mạng, Đại tướng Văn Tiến Dũng được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng các huân chương: Sao vàng, Hồ Chí Minh, Quân công (hạng Nhất, Nhì) và nhiều huân, huy chương cao quý khác; Nhà nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào tặng Huân chương Tự do hạng Nhất, Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Angkor.

Tên ông được đặt cho một số đường phố tại Hà Nội, Đà Nẵng và Sơn La. 

 

MAI HƯƠNG (tổng hợp)

-----------------------------

* Nguồn trích dẫn thông tin: 

- Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam - Trung tâm Từ điển bách khoa quân sự, Bộ Quốc phòng.

- Quyển 1: Lịch sử quân sự - "Bách khoa toàn thư quân sự Việt Nam" do Cục Khoa học quân sự phối hợp NXB Quân đội ấn hành.

- Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng.