Từ chiến trường trở về, ba tôi được làm việc cùng Thượng tướng Lê Quang Hòa

Năm 1975, trong niềm vui lớn lao của cả dân tộc khi miền Nam được giải phóng, non sông thu về một mối, mẹ tôi (Vũ Thị Kim Nụ, 1941-2022) và hai anh em tôi hạnh phúc đón ba trở về sau hơn 10 năm chiến đấu tại chiến trường Khu 5 - Tây Nguyên.

Sau ngày đất nước thống nhất, ba tôi lần lượt công tác tại Viện Khoa học Quân sự, Học viện Quân sự cấp cao (nay là Học viện Quốc phòng) và Viện Lịch sử Quân sự (nay là Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam). Năm 1984, ông được điều động về làm Bí thư Đảng ủy chuyên trách tại Tổng Thanh tra Quân đội. Công việc mới đưa ba tôi đến gần hơn với những vị tướng mà tên tuổi đã gắn liền với các chiến công vẻ vang của Quân đội và dân tộc. Trong số đó có Thượng tướng Lê Quang Hòa, Thượng tướng Hoàng Cầm, Trung tướng Nguyễn Kiệm và Trung tướng Nguyễn Văn Cốc. Qua những câu chuyện ba kể và những lần được gặp gỡ, tiếp xúc, hình ảnh các ông dần trở nên gần gũi với tôi.

Cán bộ Thanh tra Bộ Quốc phòng năm 1988. Đại tá Nguyễn Tam Điện ở hàng đứng giữa, thứ ba từ bên trái sang.

Khi ba tôi về Tổng Thanh tra Quân đội, Thượng tướng Lê Quang Hòa (1914-1993) đang giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Thanh tra Quân đội. Mùa thu năm 1986, sau khi tốt nghiệp đại học ở Liên Xô trở về nước, tôi cùng ba dự định đến thăm một người bác ruột ở phố Hàng Bông, Hà Nội. Trước khi đi, ba bảo sẽ ghé thăm nhà bác Lê Quang Hòa ở phố Lý Nam Đế để báo cáo một số công việc. Khi ấy, gia đình tôi ở số 1A Hoàng Văn Thụ. Tôi không ngờ chuyến đi ấy lại để lại trong mình một kỷ niệm sâu sắc. Tôi được gặp Thượng tướng Lê Quang Hòa cùng phu nhân là bà Nguyễn Thị Minh Nhã. Sự đón tiếp ân cần, gần gũi của ông bà khiến tôi cảm nhận được tình cảm chân thành mà các bậc đi trước dành cho đồng đội và gia đình họ.

Nhiều năm sau, khi đọc lại bài báo trên Báo Quân đội nhân dân, tôi đặc biệt chú ý nhận xét của Đại tá Nguyễn Liêm, người từng có nhiều năm công tác với Thượng tướng Lê Quang Hòa: “Ông luôn yêu mến, quý trọng những người giúp việc như anh em trong nhà”. Ký ức về buổi gặp năm ấy giúp tôi hiểu thêm rằng sự chân tình, trọng nghĩa tình đồng đội chính là một nét đẹp trong nhân cách của vị tướng.

Ba tôi từng nói về Thượng tướng Lê Quang Hòa là người văn võ song toàn. Trên cương vị Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị kiêm Tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân, ông có nhiều đóng góp cho sự phát triển của tờ báo hai lần anh hùng. Trên chiến trường, ông tham gia và đảm nhiệm những trọng trách trong nhiều chiến dịch lớn, từ Chiến dịch Biên giới, Thượng Lào, Điện Biên Phủ đến Đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Trị - Thiên và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Đại tá Nguyễn Tam Điện (giữa) và đồng đội ở cơ quan Tổng Thanh tra Quân đội năm 1989. 

Năm 1973, trên cương vị Trưởng đoàn đại biểu quân sự miền Bắc trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên, ông tiếp tục thể hiện bản lĩnh và sự kiên định trên mặt trận đấu tranh thi hành Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đó là bản lĩnh ngoại giao, một khả năng đặc biệt trong cuộc đời binh nghiệp của vị tướng từng trải qua nhiều trận đánh ác liệt.

Trên cương vị Tổng Thanh tra Quân đội, ông tiếp tục vận dụng kinh nghiệm và bản lĩnh của người chỉ huy vào công tác thanh tra, kiểm tra, góp phần giữ nghiêm kỷ luật, củng cố nền nếp và xây dựng Quân đội vững mạnh.

Thượng tướng Hoàng Cầm - tình đồng đội từ chiến trường đến đời thường

Tháng 9-1987, Thượng tướng Hoàng Cầm (1920-2013) được điều động về làm Tổng Thanh tra Quân đội. Từ đây, ba tôi có dịp làm việc với một người đồng đội cũ mà ông luôn dành nhiều tình cảm quý mến. Hai người từng gắn bó với Trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Chính những năm tháng cùng sống, chiến đấu và trưởng thành trong quân ngũ đã tạo nên sự thấu hiểu, tin cậy giữa họ.

Gia đình đồng chí Hoàng Cầm khi ấy ở TP Hồ Chí Minh, mỗi lần ra Hà Nội công tác, ông thường ghé thăm gia đình tôi ở số 34A Trần Phú, mang theo khi thì ít xoài, lúc lại mấy quả măng cụt miền Nam. Những món quà giản dị ấy chứa đựng tình cảm chân thành, khiến những lần gặp gỡ không chỉ là chuyện công việc mà còn là dịp để những người đồng đội ôn lại kỷ niệm xưa.

Ba tôi kể rằng, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Hoàng Cầm từng bị thương nặng ở tay phải, để lại di chứng khiến ông phải tập viết bằng tay trái. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ông từng là Sư đoàn trưởng Sư đoàn 9, đơn vị chủ lực quan trọng trên chiến trường Nam Bộ. Khi Quân đoàn 4 được thành lập ngày 20-7-1974, ông trở thành vị Tư lệnh đầu tiên. Quân đoàn đã lập nhiều chiến công xuất sắc, trong đó có trận giải phóng Phước Long ngày 6-1-1975, một thắng lợi có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá tương quan lực lượng và tạo thêm cơ sở thực tiễn cho quyết tâm giải phóng miền Nam.

Từ tháng 9-1987 đến 11-1992, trên cương vị Tổng Thanh tra Quân đội, đồng chí Hoàng Cầm tiếp tục đóng góp kinh nghiệm của người chỉ huy dày dạn chiến trường vào công tác thanh tra, kiểm tra, củng cố kỷ luật và xây dựng Quân đội. Với tôi, hình ảnh vị tướng ấy không chỉ gắn với những chiến công lớn, mà còn hiện lên qua những lần ghé thăm giản dị, đậm tình đồng đội.

Trung tướng Nguyễn Kiệm - người đồng chí có nhiều điểm chung

Năm 1988, Trung tướng Nguyễn Kiệm (1931-2010) được điều động về làm Phó tổng Thanh tra Quân đội. Thượng tướng Hoàng Cầm, Trung tướng Nguyễn Kiệm và ba tôi có điểm chung đặc biệt: Cả ba đều từng gắn bó với Trung đoàn 209, Sư đoàn 312. Những trải nghiệm chung trong quân ngũ là cơ sở để họ hiểu nhau, phối hợp trong công việc và thêm trân trọng tình đồng chí.

Ba tôi kể rằng, sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở chiến trường Quảng Trị, Sư đoàn 312 được lệnh hành quân về phía Bắc Thanh Hóa để củng cố lực lượng, huấn luyện và sẵn sàng nhận nhiệm vụ mới. Đồng chí Nguyễn Kiệm từng đảm nhiệm cương vị Phó tư lệnh Sư đoàn 312, sau đó tham gia Ban liên hợp quân sự bốn bên. Hoàn thành nhiệm vụ, ông trở về đơn vị; tháng 10-1983, ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân đoàn 1 trước khi chuyển sang công tác Thanh tra Quân đội.

Năm 1992, ông được giao giữ cương vị Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng. Trong những năm công tác tại cơ quan thanh tra, ông cùng tập thể lãnh đạo xây dựng nền nếp công tác, triển khai nhiều hoạt động thanh tra, kiểm tra, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý, giữ vững kỷ cương và bảo đảm các chế độ, chính sách trong quân đội được thực hiện nghiêm túc.

Từ những câu chuyện của ba, tôi hiểu rằng công tác thanh tra tuy ít xuất hiện trong những trang sử chiến trận hào hùng, nhưng có vai trò thiết yếu đối với việc xây dựng Quân đội chính quy, kỷ luật, vững mạnh. Đó là công việc đòi hỏi bản lĩnh, sự công tâm và tinh thần trách nhiệm không kém những nhiệm vụ gian khổ ngoài mặt trận.

Ba tôi và những lá đơn gửi từ niềm tin

Từ năm 1988, ba tôi được giao thêm nhiệm vụ Trưởng thanh tra xét khiếu tố thuộc Thanh tra Quân đội. Công việc ngày càng nhiều, ông thường mang hồ sơ về nhà nghiên cứu ngoài giờ. Tôi vẫn nhớ hình ảnh ba miệt mài đọc những lá đơn viết tay của cán bộ, chiến sĩ và thân nhân họ gửi đến cơ quan. Có những lá đơn rất dài, chữ viết khó đọc, trình bày những hoàn cảnh phức tạp, những nỗi niềm và cả những mong mỏi chưa được giải quyết. Ba tôi kiên nhẫn đọc, tìm hiểu từng trường hợp, cân nhắc các khía cạnh để đề xuất cách xử lý thấu tình, đạt lý.

Ông thường nói với các con, người ta phải tin tưởng thì mới gửi đơn đến cơ quan thanh tra. Vì vậy, người làm công tác này không thể chỉ nhìn hồ sơ trên giấy mà phải tìm hiểu hoàn cảnh cụ thể, bảo đảm sự công tâm, khách quan, đúng nguyên tắc. Điều ông luôn tâm niệm là không để ai bị lãng quên, không để vụ việc nào bị bỏ quên.

Những lời dặn ấy đã trở thành bài học sâu sắc đối với tôi. Đằng sau mỗi lá đơn không chỉ là một vụ việc cần giải quyết, mà còn là số phận, quyền lợi và niềm tin của con người. Công tác thanh tra, bởi thế, không đơn thuần là thực hiện quy định, mà còn là trách nhiệm đối với đồng chí, đồng đội và nhân dân.

Từ giữa những năm 1990, sức khỏe ba tôi suy giảm rõ rệt. Những năm tháng chiến đấu lâu dài ở chiến trường Khu 5 - Tây Nguyên cùng ảnh hưởng của chất độc hóa học và bệnh khớp khiến ông thường xuyên phải điều trị tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108. Trong thời gian ấy, Trung tướng Nguyễn Kiệm thường đến thăm ba tôi, khi ở bệnh viện, lúc tại nhà, tình đồng đội của họ chân tình, giản dị.

Lời tiễn biệt và nghĩa tình đồng đội

Năm 1998, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Văn Cốc, nguyên Tư lệnh Quân chủng Không quân, được điều động về làm Phó chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng. Tháng 12-1998, ông đảm nhiệm cương vị Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng. Tên tuổi đồng chí Nguyễn Văn Cốc gắn liền với những chiến công của Bộ đội Không quân trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Năm 1969, đến thăm Quân chủng Phòng không - Không quân, Chủ tịch Hồ Chí Minh biểu dương bằng lời chúc nổi tiếng: “Năm mới, Bác chúc cho Quân chủng Phòng không - Không quân có nhiều Cốc hơn nữa”.

Đồng chí Nguyễn Văn Cốc, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng, đọc điếu văn trong tang lễ Đại tá Nguyễn Tam Điện, ngày 7-10-1999.
 Bút tích của đồng chí Nguyễn Văn Cốc. 

Sáng sớm 5-10-1999, tôi đến cơ quan Thanh tra Bộ Quốc phòng, đau đớn báo tin với Thiếu tướng Nguyễn Văn Cốc rằng ba tôi đã qua đời, sau khi nghỉ hưu vào tháng 7 cùng năm. Ông ân cần chia buồn với gia đình. Hai ngày sau, Cơ quan Thanh tra Bộ Quốc phòng tổ chức tang lễ chu đáo cho ba tôi. Đối với gia đình, sự quan tâm ấy là nguồn an ủi lớn lao trong những ngày đau buồn; là minh chứng cảm động cho nghĩa tình đồng đội, khi người lính đã rời cương vị công tác, tình cảm và sự trân trọng mà đồng chí, đồng đội dành cho nhau vẫn còn nguyên vẹn.

Từ những năm tháng kháng chiến chống Pháp, chiến hào Điện Biên Phủ, các chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc sau ngày thống nhất, Thượng tướng Lê Quang Hòa, Thượng tướng Hoàng Cầm, Trung tướng Nguyễn Kiệm, Trung tướng Nguyễn Văn Cốc cùng nhiều vị tướng lĩnh khác đã cống hiến trọn đời cho Quân đội và đất nước. Nhưng bên cạnh những chiến công lẫy lừng, điều khiến tôi xúc động khi nhớ về những con người đáng kính ấy còn là sự giản dị, lòng tận tụy, tinh thần trách nhiệm và tình cảm sâu nặng dành cho đồng đội.

Ba tôi đã vinh dự được sát cánh cùng những người chỉ huy đáng kính trong một công việc thầm lặng mà có ý nghĩa quan trọng đối với Quân đội. Từ ba, tôi học được cách trân trọng những con người bình dị, tận tụy với công việc, biết đặt trách nhiệm lên trên lợi ích riêng và luôn giữ gìn tình nghĩa đồng chí. Thời gian có thể lùi xa, nhưng những con người và những giá trị tốt đẹp ấy sẽ mãi còn trong ký ức gia đình, trong truyền thống Quân đội và trong lòng những người được tiếp nối.