Bài 2: Những giọt xăng pha máu trên đường Trường Sơn

Sau cuộc Tổng tiến công nổi dậy Xuân 1968, đế quốc Mỹ điên cuồng đánh phá huỷ diệt những vùng đất hiểm yếu để ngăn chặn nguồn chi viện từ miền Bắc vào miền Nam, chúng áp dụng chiến thuật chặt đứt giao thông ở các vùng trọng điểm hòng băm nát khu vực cán xoong thuộc địa bàn tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình với chiều dài chưa đầy 200km từ vĩ tuyến 19 trở vào. Đặc biệt, 3 trọng điểm là phà Bến Thuỷ, Nam Đàn, Linh Cảm bị đánh bom triền miên tạo thành vùng tam giác lửa. Trên địa bàn Khu 4, trong 2 tháng 3 và 4/1968, địch đánh phá tới 12.000 phi vụ, tập trung vào các cơ sở kho tàng, vận tải, xăng dầu, khiến công tác vận tải gặp khó khăn nghiêm trọng, nhất là các ô tô vận chuyển xăng dầu. Gần nửa tháng, hàng ngàn xe vận tải của Đoàn 559 phải ngừng hoạt động vì không còn xăng. Kế hoạch dồn chân hàng ra phía trước trong mùa mưa để mùa khô vận chuyển lớn có nguy cơ bị trì hoãn. Thiếu xăng nên đạn, lương thực, hàng quân nhu không vào được chiến trường, cuộc sống của bộ đội vô cùng khó khăn.

Trước tình hình đó, Bộ Tư lệnh 500 chỉ thị cho Binh trạm 12, 14 và các lực lượng vận tải phía sau bằng mọi giá phải đưa xăng dầu vượt Trường Sơn giao cho Đoàn 559. Cửa khẩu Binh trạm 12, chỗ gặp nhau của Đường 15 và Đường 12 là một hiểm địa, một bên là vách núi, một bên là vực sâu; địch đã trút xuống ngã 3 Khe Ve đến đèo La Trọng hàng ngàn quả bom. Đất đá đổ xuống gặp nước, tạo nên vùng bùn lầy kéo dài hàng cây số. Công việc vận chuyển xăng qua khu vực này vô cùng gian nan, nguy hiểm, vì trong đó có lẫn rất nhiều bom mìn của địch. Đã có 8 chiến sĩ bị cụt  chân do giẫm phải mìn. Lực lượng công binh phải điều các chuyên gia về mìn đến để nghiên cứu tìm cách hất bùn đi, song qua nhiều lần nổ mìn đều không đạt hiệu quả.

Để đưa xăng qua vũng lầy này, Binh trạm 12 có sáng kiến Kiệu xăng qua trọng điểm bằng cách nạp xăng vào phuy 100 và dùng 4 người khiêng qua. Từ sáng sớm đến tối, ba tốp mới khiêng được 15 phuy xăng, nhưng bị tổn thất khá lớn: 1 đồng chí trượt chân ngã xuống vực, 2 đồng chí trúng mìn hy sinh. Hai ngày ròng rã, Binh trạm mới chỉ giao được 2 xe xăng cho Đoàn 559.


Lúc này, việc chi viện cho chiến trường miền Nam đòi hỏi hết sức cấp bách, nhưng đường vận chuyển xăng dầu vẫn bế tắc. Xác định bằng bất cứ giá nào cũng phải đưa xăng qua trọng điểm, Binh trạm quyết định sử dụng cách gùi cõng xăng: Theo đó, xăng được bọc trong túi nylông, đựng vào ba lô để các chiến sĩ cõng qua trọng điểm. Qua 1 ngày vượt bom đạn địch, 500 chiến sĩ đeo ba lô chứa đầy xăng lội bì bõm trong bùn lầy mới giao được 10 m3 xăng cho kho tiếp nhận. Nhưng các ba lô và túi ny lông cũng bị xăng ngấm qua làm 40 chiến sĩ bị bỏng, lưng phồng rộp. Một số chiến sĩ bị bỏng rộp quá nặng và nhiễm độc chì nên đã hy sinh.

Trong cái khó ló cái khôn. Cán bộ, chiến sĩ Binh trạm đã nghĩ ra cách sử dụng các loại ống nước, ống cao su, dùng tôn cuốn lại rồi hàn thành ống, kết hợp với ống bương, ống tre làm thành đường ống dẫn xăng. Ở phía Bắc đèo, Binh trạm bố trí 3 máy đẩy đưa xăng vượt đèo. Trên đỉnh, cán bộ, chiến sĩ xăng dầu thiết kế bể chứa bằng một số phuy 200 lít, có van điều tiết để xăng tự chảy xuống phía Nam đèo. Sau 10 ngày, đường ống tự tạo hoàn thành. Ngày vận hành đầu tiên, dòng xăng đã vượt qua đèo, cung cấp đủ xăng cho phía trong vận chuyển. Tuy nhiên, do phương tiện thô sơ nên trục trặc thường xảy ra: Những đoạn ống bương bị ngấm xăng chỉ 3 ngày là tóp lại làm dòng chảy bị hẹp, phá vỡ các mối nối. Cán bộ, chiến sĩ Binh trạm phải thay thế các đoạn “ống” hỏng để việc vận hành được liên tục. Tuy chỉ tồn tại có 2 tháng song đường ống kỳ lạ này đã đưa được 150 tấn xăng vượt trọng điểm vào phía trong.

Cùng thời gian này, ở Binh trạm 14, việc chuyển xăng qua trọng điểm cũng rất khó khăn. Để lập chân hàng cho Binh trạm, Bộ Tư lệnh 500 hiệp đồng với Tổng cục Đường sắt chở xăng dầu từ Tân Đức vào Đò Vàng. Đường thủy bị đánh tắc, phải sử dụng xe ô tô chở phuy xăng theo đường 22 đến ngã ba sông Son và sông Gianh, rồi chuyển xuống phương tiện vận tải thủy. Nhưng chỉ được vài chuyến, địch phát hiện, đánh phá dữ dội. Chúng còn thả các loại bom nổ chậm, bom từ trường xuống sông. Cán bộ, chiến sĩ ta phải treo những miếng sắt dưới đáy thuyền rồi kéo qua, kéo lại nhiều lần kích cho bom nổ. Công việc rất vất vả và nguy hiểm. Đội tàu phá bom từ trường ở tuyến sông Nhật Lệ được cấp tốc điều tới hỗ trợ. Chỉ trong 6 ngày đêm, ta đã phá được trên 30 quả bom dưới lòng sông.

Ở tuyến sông Nhật Lệ thuộc Binh trạm 16 cũng bị địch khống chế gắt gao bằng bom từ trường. Binh trạm phải sử dụng thuyền gỗ, thuyền nan của nhân dân địa phương chở xăng dầu nhưng vẫn bị vướng bom, phải dùng tàu phá bom từ trường mới khai thông được tuyến. Trên đoạn từ ngã 3 sông Gianh vào sông Son, gần 1.000 cán bộ, chiến sĩ dầm mình trong nước suốt ngày đêm, dùng dây thép gông 40 phuy xăng thành một mảng, vừa đẩy, vừa chèo hoặc kéo xăng ngược dòng. Máy bay địch quần đảo bắn trúng 2 mảng làm mặt sông loang váng xăng. Đánh vật với dòng nước ngược, đến ngày 13/8/1968, Binh trạm đã đưa 1.500 phuy xăng đến Cường Hà. Việc gông phuy xăng thành mảng để vận chuyển là một sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ ngành Xăng dầu Quân đội.

Trên các đoạn đường hiểm yếu, mỗi ngày phải hứng chịu 30-40 trận bom khiến đường đứt đoạn, xe không thể qua được. Binh trạm đã lợi dụng dòng chảy sông, suối kết các phuy xăng thành bè kéo vòng qua các trọng điểm. Đêm đầu tiên, địch ném bom trúng 2 phuy xăng, lửa bốc cháy dữ dội, máy bay địch phát hiện tập trung đánh phá xuống đội quân chuyển tải. Bộ đội nhanh chóng kéo những phuy xăng còn lại ra khỏi vùng  lửa. Nhiều đồng chí bị bỏng, mặt mày, chân tay cháy sém vẫn xông vào dập lửa cứu xăng. Kết quả 20 phuy xăng được kéo qua trọng điểm, nhưng 9 chiến sĩ đã hy sinh. Đêm thứ 2, đoàn quân chuyển tải kéo được 30 phuy, máy bay địch ào tới bắn phá khiến thêm 29 đồng chí ngã xuống. Giá phải trả quá đắt nhưng trước yêu cầu cấp bách của chiến trường, việc vận chuyển xăng dầu không thể dừng lại được.

Các binh trạm cửa khẩu gặp khó khăn nên suốt tháng 8/1968, tuyến Trường Sơn mới nhận được 20 tấn xăng. Xăng thiếu nghiêm trọng, lực lượng cơ giới trên tuyến gần như ngừng hoạt động. Hàng hóa, vũ khí, đạn dược, nhất là lương thực, thực phẩm không đưa vào sâu được nên một số nơi, bộ đội bị đói, bữa ăn hàng ngày giảm xuống 400g, rồi 200g. Lúc này, tại kho Binh trạm 31 còn khoảng 30 tấn xăng, Bộ Tư lệnh 559 chỉ thị cho Binh trạm phải gấp rút đưa xăng vào Bùm Lùm. Cán bộ, chiến sĩ Binh trạm đã kết xăng thành mảng, đẩy theo dòng Nậm Ngo, Nậm Hơ đến Seng Pheng. Tại đây, các phuy xăng tiếp tục được vần bộ trên chặng đường 20 km, chuyển qua sông Sê-Băng-Phai rồi lại tiếp tục kéo bộ 20 km vào Tha-pa-chôn, giao cho Binh trạm 32 chuyển về Bùm Lùm. Qua gần 1 tháng vận chuyển vô cùng khó khăn và cực nhọc, tất cả số xăng đã đến đích…

Có thể nói, mặc dầu bị địch đánh phá ác liệt nhưng với sự cố gắng của cán bộ, chiến sĩ ngành Xăng dầu, khối lượng xăng dầu đưa vào phía trong ngày một tăng: năm 1965-1966 đạt 2.471 tấn; năm 1966-1967 đạt 4.114 tấn; năm 1967-1968 đạt 14.657 tấn; góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương đẩy mạnh vận tải cơ giới trên toàn tuyến Trường Sơn, đáp ứng một phần yêu cầu chi viện của chiến trường. Song, qua đây cũng cho thấy, việc vận chuyển xăng dầu qua địa bàn rừng núi Trường Sơn trong điều kiện phải đối phó với các thủ đoạn đánh phá ác liệt của kẻ thù thì không thể vận chuyển nhỏ lẻ, thô sơ như trước được mà cần phải có phương thức vận chuyển xăng dầu hiện đại và quy mô hơn. Chính vì vậy, Quân uỷ Trung ương đã quyết định đưa đường ống vào làm tuyến từ Khe Ve vượt đèo Mụ Giạ, xuyên qua Tây Trường Sơn xuống Bùm Lùm để tiếp cận Đường 9, tạo điều kiện cho Đoàn 559 vận tải hàng vào Nam…

(Xem tiếp kỳ sau)

Đại tá, PGS, TS DƯƠNG HỒNG ANH
(Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam)