Trong thắng lợi lịch sử của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh, ngành Quân nhu Quân đội đã phát huy được nguồn sức mạnh tổng hợp của quân nhu nhân dân. Trong đó, những kinh nghiệm trong xây dựng tổ chức, tạo nguồn dự trữ và thực hành bảo đảm quân nhu chiến dịch trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Sau hiệp định Pa-ri (01/1973), theo chỉ đạo của trên, ngành Quân nhu ở hậu phương miền Bắc đã khẩn trương kiện toàn và điều chỉnh, bố trí lực lượng, cơ sở vật chất. Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp trong và ngoài quân đội từ Trung ương đến địa phương tăng cường bảo đảm quân nhu cho tiền tuyến. Căn cứ vào tình hình thực tế, Tổng cục Hậu cần đã đề xuất chủ trương xây dựng hậu phương quân đội và kế hoạch hậu cần ba năm (1973-1975). Thực hiện chủ trương trên, đoàn phái viên đặc biệt do đồng chí Đinh Đức Thiện Ủy viên Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần dẫn đầu đã đi vào các chiến trường miền Nam để nghiên cứu tình hình, đồng thời chỉ đạo công tác chuẩn bị thế và lực về hậu cần. Các đồng chí cán bộ quân nhu trong đoàn đã đến tận nơi các căn cứ hậu cần B1, B2, B3… để nắm tình hình, chỉ đạo công tác chuẩn bị cơ sở vật chất quân nhu; thống nhất kế hoạch tổ chức kho tàng; khai thác nguồn tại chỗ; dự trữ lương thực thực phẩm (LTTP) và giải quyết các nhu cầu về hàng quân nhu cần chuyển từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam.
Tháng 10 năm 1973, ta đã thành lập các quân đoàn chủ lực: Quân đoàn 1 ở miền Bắc, Quân đoàn 2 ở miền Trung, Quân đoàn 4 ở miền Nam. Trong tổ chức mỗi quân đoàn đều có cục hậu cần và phòng quân nhu. Sau đó, tháng 1/1974, Cục Quân nhu đã nghiên cứu thành lập 27 phân đội quân nhu tăng cường cho các chiến trường làm nhiệm vụ tăng gia, thu mua, khai thác và sản xuất, chế biến LTTP tại chỗ, tạo nguồn bảo đảm quân nhu vững chắc chuẩn bị cho chiến dịch.
Trong 2 năm 1973 - 1974, Cục Quân nhu đã phối hợp chặt chẽ với các ngành có liên quan trong Tổng cục Hậu cần và Đoàn 559, tổ chức vận chuyển được 76.400 tấn hàng quân nhu từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam gồm: gạo, hàng đóng hộp, thực phẩm khô và hạt giống các loại cung cấp cho các đơn vị ở chiến trường để phát triển tăng gia sản xuất, chế biến LTTP tại chỗ. Trong 2 năm này, các đơn vị ở chiến trường đã thu hoạch được 7.900 tấn lương thực quy ra thóc. Đồng thời, phát động và tổ chức các tầng lớp nhân dân cùng quân nhu chiến trường thu mua, khai thác tại chỗ được 34.800 tấn LTTP. Tổng hợp cả ba nguồn: miền Bắc chuyển vào, bộ đội tăng gia và thu mua khai thác tại chiến trường miền Nam trong hai năm, ta đã có được 121.000 tấn vật chất quân nhu. Với số lượng trên, ngành Quân nhu không những bảo đảm đủ nhu cầu thường xuyên cho bộ đội, mà còn có đủ lượng dự trữ cho chiến đấu. Tính đến đầu năm 1975, vật chất quân nhu dự trữ có thể bảo đảm được cho các chiến trường miền Nam từ 3 đến 6 tháng, riêng LTTP có ở chiến trường thì mức dự trữ cao hơn; quân trang, quân dụng dự trữ đủ một mùa những loại chính, sẵn sàng bảo đảm cho các chiến dịch, đặc biệt là cho trận quyết chiến chiến lược mùa Xuân 1975.
Cùng với việc xây dựng cơ sở, tạo nguồn dự trữ vật chất, ngành Quân nhu luôn coi trọng xây dựng hệ thống tổ chức quân nhu các cấp từ quân nhu chiến lược đến quân nhu chiến dịch và quân nhu chiến thuật; trên các khu vực, hướng chiến đấu, tạo thành thế vững chắc về lực lượng. Đồng thời, cùng với các chiến trường xây dựng các cụm kho chiến lược, chiến dịch nằm trên các tuyến đường vận tải chiến lược như: khu vực Đông Hà, dọc đường 9, Bắc Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ; trên hướng chiến dịch, chiến trường Trị Thiên xây dựng cụm kho Cam Lộ, Nam Đông và K82; ở Tây Nguyên, có hệ thống kho dọc đường 14 và 14B…; ở khu 5 xây dựng 6 cụm kho phía trước trên khu vực An Trang, Núi Hai, Nước Trắng, An Lâm, Đường 19 và các cụm kho lớn ở phía Nam; ở Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ có 8 cụm kho bố trí trên các hướng bao quanh Sài Gòn;
Các cơ sở sản xuất, thu mua khai thác và chế biến LTTP cũng được triển khai mở rộng. Ở Quân khu trị Thiên, Khu 5, Quân đoàn 2 có khu tăng gia dọc đường 9, Ba Lòng, Đắc Tô, Tân Cảnh và ven đường 14. Đặc biệt, ở Khu 5 và Nam Bộ ngoài khu tăng gia sản xuất quy mô lớn, còn có cả cơ sở hậu cần làm nhiệm vụ thu mua, khai thác vật phẩm quân nhu. Quân nhu các cấp còn tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với yêu cầu xây dựng quân nhu chiến dịch sẵn sàng bảo đảm cho tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng quy mô lớn. Trong 2 năm 1973-1974, Cục Quân nhu đã lựa chọn, đề xuất với trên đưa vào các chiến trường 225 cán bộ, nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ để giúp các đơn vị xây dựng ngành và làm nhiệm vụ bảo đảm.
Bước vào mùa Xuân 1975, toàn dân, toàn quân và toàn ngành Quân nhu đã chuẩn bị sẵn sàng cho những chiến dịch quy mô lớn. Ngày 09/01/1975, Thường trực Quân ủy Trung ương họp bàn nhiệm vụ quân sự năm 1975 và xác định hướng tiến công chủ yếu của bộ đội chủ lực là Nam Tây Nguyên. Bộ tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên được thành lập. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm bốn sư đoàn (10, 320A, 316, 968) và các trung đoàn binh chủng, với quân số khoảng 47 ngàn người. Đoàn cán bộ Cục Quân nhu tham gia chiến dịch có Thượng tá Từ Giấy - Phó Cục trưởng Cục Quân nhu làm trưởng đoàn. Tổ chức quân nhu chiến dịch bố trí theo hệ thống hậu cần, thành 3 khu: khu vực hậu cứ ở Đức Cơ gồm cụm kho, bộ phận tăng gia sản xuất chế biến; khu vực cơ bản ở Ya Khanh, Đắc Đam làm nhiệm vụ tiếp nhận, dự trữ, bảo đảm quân nhu cho các hướng và khu vực tiền phương có nhiệm vụ bảo đảm quân nhu cho các hướng theo yêu cầu của chiến dịch. Khối lượng vật chất quân nhu dự trữ ở chiến dịch Tây Nguyên là 14.900 tấn LTTP, 44.900 bộ quân phục cùng các trang bị đồng bộ khác. Đúng 2 giờ sáng ngày 10/3/1975, quân ta nổ súng mở màn cuộc tiến công Buôn Mê Thuột. Sau 32 giờ chiến đấu, quân ta đã giải phóng thị xã, đến ngày 25/3/1975, quân và dân ta đã giải phóng toàn bộ Tây Nguyên. Trong chiến dịch này, quân nhu đã bảo đảm cho chiến dịch 1.081 tấn LTTP; thu chiến lợi phẩm được 1.160 tấn gạo và 5.360 tấn muối;
Tại chiến dịch Huế- Đà Nẵng (21/3- 28/3/1975), tổ chức quân nhu chiến dịch trước ngày 19/3 ở các hướng đã hình thành xong các bộ phận bảo đảm. Về vật chất: trước chiến dịch, các quân khu, quân đoàn đã chuẩn bị dự trữ được một lượng hàng quân nhu khá lớn lót sẵn trên các hướng. Quân khu 5 dự trữ 10.000 tấn LTTP, 50.000 bộ quân phục; Quân khu Trị Thiên và Quân đoàn 2 dự trữ được 3.400 tấn LTTP, 50.000 bộ quân phục. Lượng vật chất mang theo cũng được quy định cụ thể tùy theo khả năng của từng cấp: cấp chiến dịch từ 1 đến 3 tháng, cấp chiến đấu từ 10 đến 15 ngày. Mặt khác, trong phát triển chiến đấu ta đã thu được của địch 1.200 tấn LTTP ở Phú Bài và 25.000 tấn LTTP ở Đà Nẵng kịp thời bổ sung cho bộ đội và nhân dân.
Sau hai chiến dịch ở Tây Nguyên và Huế - Đà Nẵng, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến. Ngày 31/3/1975, Bộ Chính trị quyết định mở chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài gòn trong thời gian sớm nhất, tốt nhất là trong tháng 4 không thể chậm với tư tưởng chỉ đạo là: “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Đồng thời, Quyết định thành lập Hội đồng chi viện chiến trường do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch. Tất cả ưu tiên bảo đảm cho chiến dịch giải phóng Sài gòn - Gia Định giành thắng lợi. Theo chỉ đạo của Hội đồng chi viện chiến trường, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Hậu cần, từ hậu phương lớn miền Bắc, mọi lực lượng, phương tiện vận tải của Nhà nước và Quân đội có thể huy động, đều được sử dụng vào việc chuyển quân, vật chất, phương tiện…vào chiến trường miền Nam.
Bộ Tư lệnh Chiến dịch Quyết định tiến công giải phóng Sài Gòn từ năm hướng: Tây Bắc, Đông Bắc, Đông Đông Nam, Tây và Tây Nam. Nhu cầu vật chất quân nhu bảo đảm cho chiến dịch rất lớn, khoảng 21.000 tấn. Trong thời gian 20 ngày (từ ngày 5 đến ngày 25/4) phải chuẩn bị xong. Để bảo đảm quân nhu cho một chiến dịch lớn, có tầm quan trọng đặc biệt này, Quân nhu Chiến dịch tổ chức bố trí theo đội hình của hậu cần chiến dịch, lấy Phòng Quân nhu Miền làm nòng cốt được tăng cường một số cán bộ của Cục Quân nhu. Về cơ sở, có các cụm kho cơ bản, cụm kho ở các hướng, các trạm thu mua, chế biến LTTP. Quân nhu hướng dựa vào quân nhu đoàn hậu cần Miền làm căn cứ bảo đảm. Quân nhu Đoàn Hậu cần 235 được tăng cường lực lượng, phương tiện, triển khai ở Chơn Thành, Dầu Tiếng bảo đảm cho Quân đoàn 3 và lực lượng tiến công từ hướng Tây Bắc; Quân nhu Đoàn Hậu cần 210 bố trí ở Nam Đồng Xoài, Bến Bầu bảo đảm cho Quân đoàn 1 và lực lượng tiến công từ hướng Bắc; Quân nhu Đoàn Hậu cần 814 bố trí ở La Ngà, Túc Trưng, Dầu Dây bảo đảm cho Quân đoàn 2, Quân đoàn 4 và lực lượng tiến công trên hướng Đông; Quân nhu Đoàn Hậu cần 240 bố trí ở Đồng Tháp Mười bảo đảm cho Binh đoàn 232 và lực lượng tiến công từ hướng Tây và Tây Nam. Ngoài ra, Cục Quân nhu còn tổ chức một bộ phận dự bị cơ động ở An Lộc, sẵn sàng cơ động tăng cường bảo đảm cho các quân đoàn. Các quân đoàn cũng triển khai các căn cứ hậu cần, trong đó có lực lượng quân nhu để bảo đảm cho chiến dịch.
Trên cơ sở lượng vật chất dự trữ và khai thác ở các chiến trường, kết hợp với các quân đoàn mang theo, đến ngày 26/4 Chiến dịch đã chuẩn bị đủ 21.000 tấn LTTP, 12 vạn bộ quân phục, 10 vạn đôi giày, 24.000m ni- lông và 30 tấn dụng cụ cấp dưỡng. Đúng 17 giờ ngày 26/4/1975, các cánh quân của ta đồng loạt nổ súng tiến công, mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đúng 5 giờ sáng ngày 30/4, từ khắp các hướng, bộ đội ta ào ạt tiến vào Sài Gòn, đánh chiếm các mục tiêu quan trọng. Đến 11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, lá cờ cách mạng tung bay trước tòa nhà chính của dinh Độc Lập. Chiến dịch mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại đã toàn thắng. Trong suốt quá trình chiến dịch, do quân ta tiến công thần tốc với lực lượng áp đảo, quân địch bị tiêu diệt và tan rã nhanh chóng, nên lượng vật chất các loại tiêu thụ trong Chiến dịch không nhiều, chỉ hết 13.773 tấn bằng 21,6% lượng dự trữ. Các lực lượng của ta thu được trong Chiến dịch một khối lượng chiến lợi phẩm rất lớn, riêng LTTP, đã thu được 106.653 tấn, kịp thời bổ sung thêm lượng dự trữ cho các đơn vị và góp phần ổn định đời sống nhân dân;
Nhờ quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm phát huy sức mạnh quân nhu nhân dân vào bảo đảm cho quân đội, từ năm 1973 đến đầu năm 1975, ngành Quân nhu đã cùng cả nước đẩy mạnh quá trình chuẩn bị cho thời cơ chiến lược và trong 55 ngày đêm của trận quyết chiến chiến lược mùa Xuân 1975 đã bảo đảm liên tiếp cho ba chiến dịch quy mô lớn và hàng loạt các hoạt động tiến công và nổi dậy trên toàn chiến trường miền Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Từ thực tiễn tổ chức, chuẩn bị tạo nguồn dự trữ và bảo đảm quân nhu chiến dịch trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm quý trong tổ chức bảo đảm quân nhu chiến dịch đó là: Phải quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận quân nhu nhân dân. Nắm chắc diễn biến chiến dịch, linh hoạt chuyển hóa thế trận, hoàn thiện các tuyến chi viện liên hoàn, vững chắc; bảo đảm đầy đủ, kịp thời mọi mặt về quân nhu cho Chiến dịch. Công tác phân công, phân cấp phải hợp lý; phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp từ Trung ương đến địa phương trong tổ chức bảo đảm quân nhu cho chiến dịch.
Trong giai đoạn hiện nay, ngành Quân nhu phải luôn quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, nhất là quan điểm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh quân nhu nhân dân, từ đó đẩy mạnh xây dựng ngành Quân nhu vững mạnh toàn diện theo hướng chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt xây dựng Quân nhu nhân dân vững mạnh. Đồng thời, tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành trong và ngoài Quân đội, chuẩn bị toàn diện về quân nhu ngay từ thời bình, sẵn sàng bảo đảm đầy đủ, kịp thời mọi mặt về quân nhu cho Quân đội trong điều kiện mới.
ĐẠI TÁ DƯƠNG VĂN THÊ