QĐND - Sau Phi-đen Ca-xtơ-rô (Fidel Castro), Ra-un Ca-xtơ-rô (Raul Castro) và Chê Ghê-va-ra (Che Guevarra) là Mên-ba Éc-năng-đét (Melba Hernandez). Đó là những tên tuổi gắn với đất nước Cu-ba được nhiều người Việt Nam biết đến nhất, đặc biệt là chúng tôi - những sinh viên Việt Nam từng được đào tạo tại Cu-ba trong ba thập niên gần cuối của thế kỷ trước. Hồi đó, chúng tôi gọi bà một cách trìu mến và trân trọng: Mami Mên-ba (mẹ Mên-ba) và bà cũng luôn tự hào khoe với các vị khách đến từ Việt Nam rằng, mình có rất nhiều người con Việt Nam...
 |
|
Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đến thăm nữ anh hùng Mên-ba Éc-năng-đét năm 2009. Nguồn: Internet
|
Thấm thoắt đã mấy chục năm trôi qua, nhưng đối với 3000 sinh viên chúng tôi, những kỷ niệm sâu sắc và những tình cảm đậm đà về đất nước, con người Cu-ba, trong đó có nhiều kỷ niệm gắn với tên tuổi và hình ảnh của bà Mên-ba Éc-năng-đét vẫn mãi ghi đậm trong tim. Mặc dù đã biết mấy năm gần đây sức khỏe của Mami không được tốt và bà đã phải sống trong một chế độ chăm sóc y tế đặc biệt, nhưng khi nghe tin bà qua đời, những đứa con yêu của người đều không tránh khỏi xúc động và thương tiếc.
Bà Mên-ba Éc-năng-đét sinh ngày 28-7-1921 tại thị trấn Cơ-ru-xết thuộc tỉnh Lát Vi-dát cũ, nay thuộc tỉnh Xi-en-phu-ê-gô, trong một gia đình có truyền thống MAMBI (tên gọi những nghĩa quân tham gia các cuộc khởi nghĩa giành độc lập của Cu-ba cuối thế kỷ 19). Bà tốt nghiệp luật sư tại Khoa Luật, Đại học La Ha-ba-na năm 1943. Ngay từ những ngày còn là sinh viên, bà đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài Ba-ti-xta (Batista) và là một trong những phụ nữ đầu tiên gia nhập hàng ngũ của phong trào cách mạng do Phi-đen Ca-xtơ-rô lãnh đạo. Mên-ba cùng với người bạn Ay-đê Xan-ta-ma-ri-a (Haydee Santamaria) là hai phụ nữ duy nhất có mặt trong đội quân khởi nghĩa do Phi-đen chỉ huy trong cuộc tấn công đánh chiếm doanh trại Môn-ca-đa, một trong những căn cứ quan trọng bậc nhất của quân đội Ba-ti-xta đóng tại thành phố Xan-ti-a-gô, thủ phủ tỉnh miền Đông Cu-ba, ngày 26-7-1953. Cuộc khởi nghĩa thất bại, hai nữ chiến sĩ cùng với phần lớn đồng đội sống sót bị bắt giữ, nhiều người bị tra tấn dã man, trong đó có cả những người thân của Mên-ba và Ay-đê.
Sau khi ra tù, cả hai người đều tiếp tục các hoạt động bí mật nhằm khôi phục lại các cơ sở và chuẩn bị lực lượng cho cuộc cách mạng sau này. Đặc biệt, Mên-ba đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thu nhận và sắp xếp những mẩu ghi chép lại bài tự bào chữa của Phi-đen trong phiên tòa Xan-ti-a-gô. Bài phát biểu đó sau này được biên soạn lại thành tập tài liệu, in và phát hành bí mật dưới đầu đề "Lịch sử sẽ minh chứng cho tôi", được coi là cương lĩnh của phong trào cách mạng 26 tháng 7, do Phi-đen sáng lập. Ngay sau ngày Phi-đen được trả tự do vào tháng 5-1955, Mên-ba được cử tham gia vào ban lãnh đạo đầu tiên của tổ chức này.
Sau đó, theo chủ trương của tổ chức, Mên-ba đã sang Mê-hi-cô, xúc tiến các hoạt động củng cố phong trào và chuẩn bị cho cuộc chiến đấu sắp tới. Ngày 25-11-1956, đội quân khởi nghĩa với hơn 80 chiến sĩ, do Phi-đen chỉ huy đã rời Mê-hi-cô đổ bộ về Cu-ba để tiến hành cuộc chiến đấu chống chế độ độc tài. Mên-ba là người đã tiễn các nghĩa quân lên đường trong ngày hôm đó. Sau này, bà cũng về nước và đã gia nhập đội quân khởi nghĩa tại căn cứ cách mạng Xi-ê-ra Ma-ét-tơ-ra (Sierra Maestra).
Sau ngày cách mạng Cu-ba thắng lợi, 1-1-1959, người nữ anh hùng Môn-ca-đa khi xưa được đảm đương nhiều chức vụ quan trọng của chính quyền mới. Chưa đầy 5 năm sau thắng lợi của cuộc cách mạng, dù phải liên tiếp đương đầu với những âm mưu và hành động phá hoại, lật đổ của các thế lực phản động thù địch, chính phủ cách mạng Cu-ba vẫn hiên ngang dang rộng cánh tay đoàn kết với nhân dân Việt Nam đang bước vào giai đoạn gay go, ác liệt nhất của cuộc đấu tranh chống Mỹ. Ngày 25-9-1963, Ủy ban Cu-ba đoàn kết với miền Nam Việt Nam (tiền thân của Ủy ban Cu-ba đoàn kết với Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia sau này) được thành lập do bà Mên-ba Éc-năng-đét làm chủ tịch, chức vụ mà bà đã đảm đương xuất sắc kể từ đó cho đến năm 1977. Với nhiệt tình, sự năng động và sáng tạo, Mên-ba đã có những đóng góp to lớn vào việc hình thành và phát triển hoạt động đoàn kết với Việt Nam, trở thành một phong trào quần chúng sâu rộng trên Đảo quốc tự do, có một không hai ở Mỹ La-tinh và là một trong những lá cờ đầu của cuộc vận động ủng hộ Việt Nam trên khắp thế giới. Tháng 3-1977, Mên-ba được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Cu-ba tại Việt Nam và trên cương vị này, bà đã có những đóng góp quý báu vào việc củng cố và phát triển tình hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa nhân dân hai nước.
Là một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Cu-ba, bà đã được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng từ đại hội lần thứ 3, năm 1986, đồng thời bà cũng là đại biểu quốc hội Cu-ba từ năm 1967. Cả hai chức vụ đó kéo dài cho đến nay.
Ngoài việc tôn vinh Mên-ba Éc-năng-đét với danh hiệu Nữ anh hùng Môn-ca-đa, Đảng và Nhà nước Cu-ba còn trao tặng bà các danh hiệu Anh hùng Lao động và Anh hùng nước Cộng hòa Cu-ba. Để ghi nhận sự đóng góp to lớn của bà vào việc phát triển quan hệ giữa hai nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã trao tặng bà Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương Độc lập hạng nhì.
Tôi là một trong những người có may mắn được gặp và nói chuyện với Mami Mên-ba nhiều lần. Ngay từ lần đầu tiên, bà đã để lại trong tôi những ấn tượng thật khó phai mờ. Ở người nữ anh hùng toát lên một vẻ đẹp của sự uyên thâm về trí tuệ, tác phong sôi nổi và nhiệt tình trong hành động và giao tiếp cùng với sự chân thành và thân mật. Đặc biệt, bà luôn thể hiện một tình cảm sâu nặng với đất nước Việt Nam, nơi bà đã coi như Tổ quốc thứ hai của mình. Bà từng nói với chúng tôi: "15 năm hoạt động sôi nổi nhất trong cuộc đời tôi, tôi đã hiến dâng cho sự nghiệp đoàn kết với Việt Nam, và đó chính là một kinh nghiệm phong phú nhất đối với tôi. Tham gia cuộc tấn công pháo đài Môn-ca-đa và gắn bó với Việt Nam là hai khoảnh khắc chiến đấu và chiến thắng đã để lại trong tôi những dấu ấn sâu sắc nhất".
NGUYỄN DUY CƯƠNG