*Giá hồ tiêu hôm nay đi ngang, dao động từ 136.000 đến 140.000 đồng/kg. Cụ thể, tại Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng) tiếp tục là địa phương có mức giá cao nhất với 140.000 đồng/kg. Đắk Lắk 138.000 đồng/kg; tại Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh), giá hồ tiêu được duy trì ở mức 136.500 đồng/kg; tại Gia Lai và Đồng Nai 136.000 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá hồ tiêu cũng duy trì trạng thái ổn định. Theo Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế, tiêu đen Indonesia được giao dịch ở mức 6.828 USD/tấn.

Tiêu đen ASTA 570 của Brazil có giá 5.850 USD/tấn, trong khi tiêu đen Malaysia duy trì ở mức 9.250 USD/tấn.

Đối với hồ tiêu Việt Nam, tiêu đen xuất khẩu loại 500g/l đứng ở mức 5.970 USD/tấn, còn loại 550g/l đạt 6.075 USD/tấn.

Ở phân khúc tiêu trắng, Muntok của Indonesia giữ mức 9.348 USD/tấn. Tiêu trắng Malaysia và Việt Nam lần lượt ở mức 12.150 USD/tấn và 8.450 USD/tấn.

Bản tin nông sản hôm nay (27-9): Giá cà phê tăng nhẹ, hồ tiêu ổn định. Ảnh minh họa: thuongtruong.com.vn

*Giá cà phê hôm nay tăng hơn 1.000 đồng/kg, hiện ở mức 93.600-93.800 đồng/kg. Cụ thể, tại Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng), giá cà phê tăng 1.100 đồng/kg, lên 93.800 đồng/kg; tại Đắk Lắk và Gia Lai giá cà phê hôm nay tăng 1.000-1.100 đồng/kg so với phiên trước, hiện ở mức 93.600 đồng/kg.

Trên thị trường thế giới, giá cà phê đồng loạt tăng trên hai sàn giao dịch quốc tế khi đồng USD suy yếu. Trên sàn London, giá Robusta kỳ hạn tháng 11-2026 tăng 77 USD/tấn, tương đương 2,34%, lên 3.367 USD/tấn. Hợp đồng giao tháng 1-2027 tăng 70 USD/tấn, tương ứng 2,14%, lên 3.342 USD/tấn.

Tại New York, giá Arabica kỳ hạn tháng 12-2026 tăng 3,25 US cent/pound, tương đương 1,18%, lên 278,60 US cent/pound. Hợp đồng tháng 3-2027 tăng 3,55 US cent/pound, tương ứng 1,3%, lên 271,25 US cent/pound.

*Giá lúa gạo hôm nay tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long không biến động. Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, giá lúa tươi OM 18 dao động 6.000-6.100 đồng/kg; lúa tươi OM 5451 ở mức 6.000-6.100 đồng/kg; lúa tươi IR 50404 dao động 5.900-6.000 đồng/kg; lúa tươi OM 34 ở mức 5.700-5.900 đồng/kg; lúa tươi Đài Thơm 8 dao động 6.100-6.200 đồng/kg.

Với mặt hàng gạo nguyên liệu xuất khẩu, CL 555 dao động ở mức 8.700-8.800 đồng/kg; IR 504 ở mức 8.650-8.750 đồng/kg; OM 5451 dao động 9.300-9.400 đồng/kg; OM 18 ở mức 8.700-8.850 đồng/kg; Đài Thơm 8 dao động 9.200-9.400 đồng/kg; OM 380 và Sóc thơm cùng ở mức 7.500-7.600 đồng/kg.

Với phụ phẩm, giá các mặt hàng dao động khoảng 7.450-8.600 đồng/kg. Tấm thơm 3-4 ở mức 8.500-8.600 đồng/kg, trong khi giá cám dao động 7.450-7.700 đồng/kg.

Tại các chợ lẻ, giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen có giá niêm yết cao nhất 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài 20.000-22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa 21.000 đồng/kg; gạo thơm Jasmine 17.000-18.000 đồng/kg.

Gạo Đài thơm dao động 15.500-16.000 đồng/kg; gạo trắng thông dụng 16.000 đồng/kg; gạo thường 14.000-15.000 đồng/kg; gạo Sóc thường 15.000-16.000 đồng/kg; gạo Sóc Thái 20.000 đồng/kg; gạo Nhật 22.000 đồng/kg; gạo OM 18 dao động 15.500-16.500 đồng/kg.

Phân khúc nếp không biến động. Giá nếp 3 tháng khô dao động 9.600-9.700 đồng/kg; nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300-7.500 đồng/kg; nếp IR 5625 tươi cũng ở mức 7.300-7.500 đồng/kg.

Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam giảm so với giữa tuần. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 514-518 USD/tấn, giảm 5 USD/tấn; gạo thơm 100% tấm dao động 372-376 USD/tấn, giảm 5 USD/tấn. Trong khi đó, gạo thơm 5% tấm tiếp tục ở mức 440-445 USD/tấn.

Trên thị trường thế giới, giá gạo biến động trái chiều. Giá gạo 5% tấm tại Thái Lan giảm 4 USD/tấn, xuống 466-470 USD/tấn, trong khi gạo 100% tấm tăng 1 USD/tấn, lên 381-385 USD/tấn.