Lâu nay, cá nóc vẫn được coi là loài cá độc. Trên thực tế, do chủ quan, thiếu hiểu biết, sử dụng chưa đúng quy cách nên đã có những trường hợp người sử dụng bị nhiễm độc tính, tử vong do ăn cá nóc.
Theo Phó Tổng thư ký Hội Nghề cá Việt Nam Bùi Văn Thưởng, ở nước ta đã chính thức xác định được 40 loài cá nóc, ngoài ra còn một số loài chưa có mẫu. Việc nghiên cứu về độc tính cá nóc ở Việt Nam vẫn ở giai đoạn sơ khai, chưa nghiên cứu được khoảng độc tính trong từng bộ phận, từng cá thể theo mùa vụ ở các vùng địa sinh thái. Đồng thời, cũng chưa nghiên cứu được các phương pháp khử độc tố, chữa trị ngộ độc, công nghệ chế xuất, điều chế sản xuất dược phẩm.
 |
| Sơ chế cá nóc ở cảng Sa Kỳ, Quảng Ngãi. Ảnh: Tuoitre.com.vn |
Thực ra, cá nóc là loài thực phẩm bổ dưỡng, giàu chất đạm, màu trắng, mùi thơm và vị ngon. Ở nước ta, trước khi có lệnh cấm trên toàn quốc năm 2003, người dân thường sử dụng cá nóc nấu canh, chiên, làm chả, nấu cháo, phơi khô hoặc làm nước mắm. Sau khi có lệnh cấm, toàn bộ cá nóc khai thác được thường bị ngư dân loại bỏ hoặc chỉ sử dụng làm thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản... Tại một số quốc gia, ngoài việc chế biến cá nóc thành các món ăn cao cấp ở những nhà hàng sang trọng, một số loài còn được chiết xuất thành dược phẩm có giá trị kinh tế cao. Hiện nay các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản… vẫn đang có nhu cầu nhập khẩu cá nóc từ Việt Nam. Trên thực tế, năm 2005 Việt Nam từng thực hiện thí điểm xuất khẩu cá nóc sang Hàn Quốc. Tuy nhiên, việc thí điểm này đã thất bại, phải tạm đình chỉ do nguyên liệu nhập vào nhà máy ít, giá mua thấp và quan trọng là chưa có ý kiến của Chính phủ.
Chương trình đẩy mạnh khai thác, chế biến và xuất khẩu cá nóc đang được khởi động lại một cách chính quy hơn. Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đang trong quá trình soạn thảo, hoàn thiện, chuẩn bị trình Chính phủ đề án "Thí điểm mở rộng và nâng cao khai thác, thu mua, chế biến và xuất khẩu cá nóc, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm". Dự án sẽ được thực hiện trong 3 năm (từ năm 2010 đến 2012) tại 5 địa phương là Quảng Ninh, Nghệ An, Phú Yên, Khánh Hoà và Kiên Giang. Trước mắt, năm 2010, Việt Nam sẽ đưa sản lượng chế biến các mặt hàng có giá trị từ cá nóc (Puffer fish) đạt từ 800 đến 1.000 tấn, với giá bình quân từ 5 đến 10USD/kg, qua đó có thể thu được từ 4 đến 10 triệu USD vào năm 2012 (năm cuối của đề án), giải quyết việc làm cho khoảng 600 đến 1.000 lao động.
Qua nghiên cứu nguồn lợi cá nóc ở biển Việt Nam, bước đầu xác định được trữ lượng khoảng hơn 37.000 tấn, nhiều nhất ở vùng biển miền Trung (chiếm 45%) và vùng biển Tây Nam bộ (chiếm 21%). Việc khai thác và xuất khẩu cá nóc của Việt Nam là hướng đi thích hợp trong tương lai. Tuy nhiên, ngành thủy sản cũng cần khắc phục những hạn chế về nghiên cứu khoa học, kịp thời rút kinh nghiệm về các dự án thí điểm, về công tác quản lí kiểm soát cá nóc trong thời gian qua, đặc biệt quan tâm đến công tác nghiên cứu xác định hàm lượng độc tố của các loài cá nóc, hàm lượng độc tố trong bộ phận khác nhau của cơ thể theo mùa vụ, tác động ảnh hưởng của các phương pháp bảo quản tới độc tố trong quá trình từ khai thác đến chế biến… Chỉ có như vậy mới giúp ngư dân yên tâm khai thác, “sống” được với nghề, từng bước tạo thêm việc làm, xóa đói giảm nghèo bền vững.
LÊ THIẾT HÙNG