I
Vịnh Hạ Long. Ảnh: Internet

Với nhiều nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú, biển và hải đảo Việt Nam đang có những đóng góp rất lớn vào sự phát triển kinh tế đất nước. Để tìm hiểu những định hướng phát triển kinh tế biển trong thời gian tới, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam.

Tiềm năng lớn nhưng hiệu quả chưa cao

- Ông có thể đánh giá gì về tiềm năng phát triển kinh tế biển và hải đảo của nước ta?

- Có thể khẳng định rằng tiềm năng tự nhiên để phục vụ cho phát triển kinh tế của biển đảo nước ta là rất lớn vì chúng ta có bờ biển dài, vùng biển rộng và nhiều đảo, đặc biệt vùng biển được phân ra nhiều vùng kinh tế, sinh thái khác nhau nên đặc thù vùng miền rất thuận lợi để khơi gợi định hướng phát triển kinh tế riêng cho mỗi vùng. Chủng loại tài nguyên thiên nhiên biển đảo của nước ta đa dạng, như dầu khí, du lịch, hàng hải cũng như nguồn lợi thủy sản. Chính sự phong phú về tiềm năng cho phép chúng ta phát triển ngành kinh tế biển đa dạng về ngành nghề cùng với một loạt các ngành dịch vụ kèm theo kinh tế biển. Tuy nhiên chúng ta còn ít khai thác giá trị chức năng của biển. Nền tảng của giá trị chức năng là tài nguyên và môi trường sinh thái, hay nói cách khác là quản lý và phát triển kinh tế biển dựa trên các hệ sinh thái. Muốn khai thác theo giá trị chức năng thì phải quản lý theo không gian. Mỗi không gian nằm trong vùng sinh thái khác nhau. Như vậy chúng ta mới có thể nghĩ đến một nền kinh tế biển phát triển mạnh và bền vững. 

- Tiềm năng là rất lớn nhưng hiện nay khai thác nguồn lợi của biển đảo chưa thể tận dụng được hết những tiềm năng đó. Rõ ràng là chúng ta đang gặp không ít thách thức, thưa ông?

- Nhiều thách thức lớn đang ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển của nước ta. Trước hết, môi trường, an ninh của vùng biển là một vấn đề luôn nóng, trong khi đó, phát triển kinh tế biển đảo phải gắn với bảo vệ an ninh chủ quyền và môi trường hòa bình. Thứ hai là công nghệ trong khai thác tiềm năng biển. Công nghệ hiện nay để phục vụ cho ngành kinh tế biển nước ta còn lạc hậu. Thêm vào đó, tổ chức hoạt động kinh tế trên biển còn lỏng lẻo. Nghề đi biển đòi hỏi kỷ luật vì phải đối mặt với sự khốc liệt của biển cả, với môi trường lao động đặc biệt như vậy mà tổ chức đội hình ra biển như hiện nay là chưa phù hợp, còn nhỏ lẻ, phân tán, thiếu trang bị, thông tin liên lạc. Hiện nay, công tác dự báo về biển đảo nói chung, dự báo những tài nguyên của từng lĩnh vực kinh tế biển nói riêng đang còn có vấn đề, người dân đi biển vẫn chủ yếu bằng kinh nghiệm, chưa dự báo được chi tiết ví dụ như sự di biến động của các đàn cá... Vì vậy mà đến thời điểm này hiệu quả của hoạt động kinh tế biển còn hạn chế.

Tăng cường các công cụ quản lý

- Trong thời gian tới chúng ta cần có định hướng gì để phát triển và khai thác tiềm năng biển một cách hiệu quả và bền vững?

- Khai thác và sử dụng biển đảo thời gian qua để lại nhiều vấn đề tác động đến môi trường, tài nguyên, và nhìn chung còn chưa theo quy hoạch. Một trong những hướng sắp tới là phải rà soát lại, tổng kiểm kê tình hình sử dụng biển đảo của cả nước. Kết quả kiểm tra này phải được đánh giá trên 3 góc độ: Thứ nhất là hiệu quả kinh tế  của việc sử dụng tài nguyên biển đảo; thứ hai là hiệu quả xã hội, thực tế thì người lao động nghề cá thu nhập ngày càng ít đi, phân hóa giàu nghèo trong nuôi trồng rất lớn; thứ 3 là hậu quả về môi trường. Cùng với đó là rà soát lại hệ thống chính sách quản lý biển đảo, lĩnh vực biển đảo ở nước ta hiện nay không có nhiều chính sách quốc gia nhưng lại ký nhiều công ước quốc tế, rất tiếc là chúng ta không nội luật hóa được nên khả năng thực thi các công ước quốc tế trên lãnh thổ Việt Nam còn rất thấp. Trên cơ sở đó, cần phải tiến hành sớm quy hoạch sử dụng biển đảo. Quy hoạch này tiếp cận chủ yếu dựa trên hệ thống các vùng sinh thái và các vùng không gian. Mỗi vùng không gian khác nhau phải có quy chế sử dụng riêng kèm theo chế tài xử lý. Việc quy hoạch cũng nhằm giúp cho địa phương rà soát, điều chỉnh kế hoạch phát triển kinh tế xã hội liên quan đến biển cho phù hợp, hài hòa được các lợi ích giữa các ngành, các địa phương.

- Ông đã từng đề cập đến việc phải xây dựng thương hiệu biển Việt Nam. Thương hiệu sẽ có tác động gì đến phát triển kinh tế biển, thưa ông?

- Lâu nay nói đến thương hiệu người ta nói nhiều đến thương hiệu ngành hàng, thương hiệu theo từng địa phương. Nhưng xu thế chung trên thế giới sắp tới khi nhìn từ góc độ tài nguyên, môi trường người ta sẽ hướng nhiều đến thương hiệu và sản phẩm hàng hóa của biển dưới dạng truy suất nguồn gốc, ví dụ như con cá, con tôm này đánh bắt ở vùng biển nào, khu nghỉ dưỡng này ở những vùng biển nào… Những vùng biển nổi tiếng của nước ta như Nha Trang, Chân Mây, Hạ Long phải được bảo tồn theo các tiêu chuẩn quốc tế. Khi tạo dựng được thương hiệu, một sản phẩm biển muốn được gắn mác thương hiệu biển Việt Nam, ngoài đạt được tiêu chuẩn ngành hàng còn phải đạt được tiêu chuẩn vùng biển. Ví dụ như sản phẩm thủy sản có thể sạch nhưng quá trình đánh bắt đã ảnh hưởng đến môi trường vì thế không thể gắn mác thương hiệu biển Việt Nam. Như vậy việc tạo dựng thương hiệu là để quản lý từ gốc vấn đề tài nguyên môi trường.

- Chúng ta đã có Chiến lược biển và hải đảo Việt Nam đến năm 2020, hiện nay, chiến lược này đã được cụ thể hóa như thế nào?

- Theo chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nước ta sẽ thành một quốc gia mạnh từ biển và làm giàu từ biển, muốn vậy phải đạt 4 tiêu chí: Một là nền kinh tế có hiệu quả thực sự, bền vững; hai là biển phải được quản lý tổng hợp, thống nhất, liên ngành; ba là biển phải được khai thác bằng công nghệ tiên tiến, hiện đại; bốn là biển phải được duy trì môi trường hòa bình, bảo vệ được chủ quyền, an ninh. Để thực hiện chiến lược biển, riêng Tổng cục Biển và Hải đảo phải thực hiện một số nhiệm vụ chính, trước hết là tiến hành đề án điều tra cơ bản tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, giai đoạn một của đề án thực hiện từ năm 2006 đến 2010, nhằm phục vụ công tác hệ thống hóa, bổ sung thông tin đầu vào cho công tác quản lý nhà nước về biển. Bên cạnh đó, Tổng cục cũng đang chủ trì xây dựng Luật Tài nguyên môi trường biển, làm cơ sở để xây dựng văn bản cấp phép giao mặt nước, không gian biển cho các ngành, địa phương thậm chí cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ và khai thác. Ngoài ra, cũng phải tăng cường công tác tuần tra trên biển. Sắp tới Tổng cục có thể phối hợp với ngành thủy sản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để thành lập đoàn kiểm tra liên ngành trên biển.

ĐỖ MẠNH HƯNG (thực hiện)