Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội kích cầu qua lãi suất, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn . Ảnh: THÁI SƠN

Trong bài viết đăng trên Báo Quân đội nhân dân ngày2-1, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cho biết: Chính phủ sẽ kiến nghị dành 17 nghìn tỷ đồng để bù khoảng 40% lãi suất thương mại nhằm huy động một lượng khá lớn tín dụng với lãi suất thấp để hỗ trợ các doanh nghiệp.

Trước đó, tại Hội nghị ngành Ngân hàng triển khai kế hoạch 2009, vấn đề kích cầu qua lãi suất đã được thảo luận sôi nổi. Đây là chủ trương mới, thu hút sự quan tâm của rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam.

Lãi suất đã ở mức hợp lý?

Theo báo cáo chiều2-1-2009 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tình hình thị trường tài chính tiền tệ trong tuần cuối cùng của năm 2008 thì lãi suất giao dịch bình quân bằng đồng Việt Nam (VNĐ) trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng ở hầu hết các kỳ hạn đều có xu hướng giảm, ngoại trừ lãi suất giao dịch kỳ hạn 12 tháng tăng nhẹ so với lãi suất giao dịch tuần trước đó. Cụ thể: Lãi suất bình quân cho vay qua đêm là 6,72%/năm, một tuần là 7,33%/năm, 2 tuần là 8,03%/năm, một tháng là 8,78%/năm, 3 tháng là 9,89%/năm, 6 tháng là 10,55%/năm và kỳ hạn một năm là 10,98%/năm. Lãi suất giao dịch bình quân các kỳ hạn bằng đồng đô-la Mỹ (USD) ở các kỳ hạn một tuần và 2 tuần có xu hướng giảm, trong khi lãi suất giao dịch các kỳ hạn còn lại có xu hướng tăng nhẹ so với tuần trước đó. Lãi suất giao dịch USD trong tuần phổ biến ở các mức dưới 3,05%/năm, lãi suất cho vay qua đêm 0,84%/năm, lãi suất các kỳ hạn một tuần trở lên dao động trong khoảng 1,31% đến 3,04%/năm.

Theo ý kiến của nhiều chuyên gia tài chính tiền tệ, trong bối cảnh hiện nay, mức lãi suất nói trên là tương đối hợp lý.

Có thể nói chưa có năm nào, lãi suất ngân hàng lại biến động mạnh như năm 2008. Tính chung cả năm, Ngân hàng Nhà nước đã 3 lần tăng và 5 lần giảm lãi suất cơ bản. Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều chỉnh tương ứng. Các tổ chức tín dụng cũng liên tục thay đổi lãi suất tiền gửi và cho vay. Lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng bằng đồng Việt Nam giữa năm 2008 đạt đỉnh ở mức từ 23% đến 24%/năm, đến cuối năm giảm xuống, ở mức thấp nhất chỉ còn 8,5%/năm; lãi suất huy động cũng đạt đỉnh 20%/năm và hiện đang đứng quanh mức từ 8 đến 9%/năm. Mức lãi suất này tương đương với thời điểm trước khi bước vào lạm phát (từ cuối năm 2007 trở về trước).

Doanh nghiệp vẫn chưa dám vay tiền ngân hàng

Ngày 2-1, trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, một số lãnh đạo ngân hàng cho rằng mức lãi suất cơ bản 8,5% hiện nay là hợp lý, nếu giảm tiếp, ngân hàng sẽ gặp khó khăn. Trong khi đó, nhiều giám đốc doanh nghiệp lại cho rằng, với lãi suất cơ bản như vậy, lãi suất cho vay tối đa có thể đến 12,75%/năm, trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng chậm lại, chỉ số giá tiêu dùng giảm, doanh nghiệp vẫn chưa dám vay vốn ngân hàng.

Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, cả năm 2008, tổng phương tiện thanh toán tăng ở mức khoảng từ 16% đến 17%, tổng dư nợ tín dụng tăng khoảng từ 21% đến 22% trong khi con số tương ứng của năm 2007 là 43,7% và 53,7%. Điều này cho thấy khu vực sản xuất rất khó khăn tiếp cận vốn vay. Có một thực tế là nhiều doanh nghiệp đang "nghe ngóng" chờ ngân hàng giảm tiếp lãi suất mới tiến hành vay vốn. Vì thế hiện có tình trạng ngân hàng dư tiền, trong khi đó doanh nghiệp lại thiếu vốn.

Phát biểu trước Hội nghị toàn quốc ngành ngân hàng, có đại biểu đã cho rằng: Hiện có 3 "cái bẫy" với các ngân hàng. "Bẫy" thứ nhất xảy ra hồi đầu năm khi lãi suất tăng mạnh, ngân hàng thiếu thanh khoản. "Bẫy" thứ hai diễn ra khi lãi suất giảm liên tục, ngân hàng khó cân đối chi phí đầu vào, dẫn tới nguy cơ thừa vốn mà không thể cho vay. "Bẫy" thứ ba có thể xảy ra nếu lãi suất xuống sâu quá, tiền không thể giữ được trong ngân hàng.

Theo ông Nguyễn Hòa Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) thì bản thân ngân hàng cũng muốn hỗ trợ doanh nghiệp vay vốn với chi phí thấp, nhưng ngân hàng cần có nguồn vốn rẻ để đáp ứng. Trong khi đó, nếu nguồn vốn đó thu hút bằng lãi suất thấp thì khó đạt yêu cầu huy động.

Ngân hàng sẽ làm đầu mối triển khai gói kích cầu

Tại hội nghị toàn ngành ngành ngân hàng triển khai kế hoạch năm 2009 (diễn ra vào ngày 30-12-2008), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đề nghị các ngân hàng cố gắng giảm lãi suất cho vay để chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp. Với các hợp đồng vay vốn lãi suất cố định trước đây, Thủ tướng cũng đề nghị các ngân hàng bàn bạc với doanh nghiệp để giảm xuống. Khi có nghị quyết chính thức của Quốc hội về gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng, Chính phủ sẽ giao Ngân hàng Nhà nước lên kế hoạch triển khai, song cũng cần kiểm soát chặt chẽ để bảo đảm sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí.

Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, với dự kiến của Chính phủ, gói kích cầu 1 tỷ USD (tương đương 17 nghìn tỷ đồng) sẽ xem xét hỗ trợ các doanh nghiệp, tập trung cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Số tiền này thực chất là "tiền mồi" được dùng để bù lãi suất (dự kiến 4%) thông qua hệ thống ngân hàng. Nếu thực hiện chính sách này, ước tính sẽ có khoảng 420.000 tỷ đồng vốn cho vay ưu đãi.

Trao đổi với các nhà báo ngay sau khi kết thúc hội nghị triển khai kế hoạch năm 2009 của ngành ngân hàng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cho biết, ngân hàng sẽ làm tốt vai trò cung ứng vốn cho nền kinh tế, đồng thời giám sát chặt chất lượng tăng trưởng tín dụng. Theo Thống đốc, để thực hiện gói kích cầu một cách hiệu quả, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ ngành liên quan như Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư… "Trong giai đoạn kích cầu, phải giám sát thật chặt, nếu không sẽ lãng phí và có nguy cơ lạm phát quay trở lại. Hiệu quả phải được đặt lên hàng đầu", Thống đốc Nguyễn Văn Giàu nhấn mạnh.

Cũng theo Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu, trong khi chờ đợi gói kích cầu 1 tỷ USD, các tổ chức tín dụng trong nước cần chủ động tiến hành kích cầu qua lãi suất, cải cách các thủ tục hành chính để tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp vay vốn.

"Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận vốn, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ở các làng nghề, các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ trực tiếp đời sống nhân dân, tạo nhiều việc làm, tăng thu nhập cho người lao động; ưu tiên các giải pháp đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, thủy hải sản tạo điều kiện thuận lợi để nông dân có tích lũy từ sản xuất nông nghiệp. Giao Chính phủ xây dựng phương án cụ thể hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua các chính sách tài chính, thuế phù hợp với những cam kết gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Nghiên cứu việc thành lập quỹ hỗ trợ doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn và để đối phó với khủng hoảng tài chính trong trường hợp cần thiết".

Trích Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009

ĐỖ PHÚ THỌ