QĐND - “Không ít người trong chúng ta đã quên quá nhanh quá khứ đói khổ, phải chạy ăn từng bữa. Hiện chúng ta đang là nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thế giới. Nhưng trong tương lai liệu chúng ta có bảo đảm đủ lương thực cho ngay chính nhu cầu trong nước không? Điều này chưa thể khẳng định nếu không có một cái nhìn đúng đắn, thận trọng và có quyết tâm hành động để bảo vệ cây lúa trước những sức ép phát triển”.

Nhân Ngày Lương thực thế giới (16-10), Tiến sĩ Nguyễn Trí Ngọc, Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã có cuộc trao đổi với Báo Quân đội nhân dân xung quanh vấn đề này.

Tiến sĩ Nguyễn Trí Ngọc

Lương thực là thách thức lớn trong tương lai

- Thưa đồng chí, bảo đảm đủ lương thực cho gần 7 tỷ công dân đang là vấn đề nan giải của toàn cầu. Nhưng dường như đối với Việt Nam, đây không còn là thách thức lớn nữa, khi chúng ta đã là nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới?

- Nhân loại đang tiến như vũ bão tới những đỉnh cao công nghệ kỳ diệu, làm đổi thay chất lượng sống, thế nhưng, cùng với đó, vấn đề tưởng như đơn giản là bảo đảm đủ “cơm ăn” cho công dân địa cầu lại là thách thức ngày càng lớn. Nhiều vùng trên trái đất vẫn đang quay quắt trong nạn đói kinh niên, giá lương thực được đẩy lên cao ngất ngưởng.

Thế nhưng, đối với Việt Nam, nhờ những thành tựu trong tăng năng suất, đẩy mạnh thâm canh mà đã từ lâu lương thực không chỉ đủ cho nhu cầu trong nước mà còn dư thừa để xuất khẩu. Năm nay, mặc dù thời tiết không thuận lợi, dự kiến chúng ta sẽ sản xuất được khoảng 41 triệu tấn thóc vượt hơn 1 triệu tấn so với năm trước, xuất khẩu sẽ đạt tới khoảng 7 triệu tấn gạo. Một số chuyên gia nhận định, với các điều kiện khách quan hiện nay, thậm chí chúng ta có thể trở thành nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới trong tương lai gần. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng quá chủ quan, nhất là trong lúc các hiểm họa từ biến đổi khí hậu đang rình rập.

- Theo kịch bản biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng thì một số vùng sản xuất lương thực màu mỡ có thể sẽ bị nước biển nhấn chìm. Vậy trong tương lai, liệu Việt Nam có lâm vào cảnh thiếu lương thực không, thưa đồng chí?

- Điều này phụ thuộc vào việc chúng ta sẽ chuẩn bị thế nào để đối phó với mối nguy này. Nếu chủ quan, chuẩn bị không tốt, ngành nông nghiệp sẽ không thể thích nghi kịp và như thế thì hậu quả sẽ vô cùng tai hại. Quá trình biến đổi khí hậu có vẻ như ngày càng nhanh. Rằm tháng Tám, đáng lẽ ở miền Bắc phải có gió mùa khô hanh thì năm nay vẫn có bão. Vừa qua, mưa ở miền Trung có ngày đạt tới 250mm, rồi lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long đạt đỉnh sau 10 năm yên ổn… Thời tiết ngày càng có nhiều yếu tố bất ngờ.

Điều đáng lo ngại là hiện nay nhiều diện tích canh tác ở các địa phương đã bị mất đi do chính nhận thức chưa đầy đủ của những người quản lý. Sự phát triển của kinh tế xã hội với những khu công nghiệp, khu chế xuất, quá trình xây dựng đô thị, đường sá, sân golf… đã “ăn” rất nhiều vào đất nông nghiệp. Do vấn đề nông nghiệp chưa được đánh giá đúng tầm quan trọng, nên nó thường được gắn với hình ảnh nghèo nàn và sẵn sàng bị hy sinh cho những mục đích phi nông nghiệp mang lại lợi ích kinh tế trước mắt. Quá trình biến mất của đất nông nghiệp này nếu không được ngăn chặn, điều chỉnh kịp thời có thể sẽ gây nguy hại cho an ninh lương thực của quốc gia trong tương lai.  

Nếu hạt lúa to bằng cái chén… 

- Nhưng với sự phát triển của khoa học, nhiều ý kiến cho rằng chúng ta có thể đánh đổi diện tích canh tác bằng việc tiếp tục tăng năng suất của cây trồng…

- Hiện Việt Nam có 4,1 triệu héc-ta đất canh tác để bảo đảm lương thực cho khoảng 87 triệu dân. Trong khi, cũng là nước xuất khẩu gạo hàng đầu nhưng Thái Lan có tới 10 triệu héc-ta đất trồng lúa mà chỉ có khoảng 65 triệu dân.

Thái Lan có diện tích canh tác lớn nên chỉ cần cấy một vụ, năng suất có thấp chăng nữa cũng đã có khoảng gần 30 triệu tấn thóc, đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Việt Nam có diện tích canh tác nhỏ hơn nên phải thâm canh, tăng năng suất “một nắng, hai sương” quanh năm mới đạt được sản lượng như hiện nay. Nói như thế để thấy, diện tích đất lúa của chúng ta không phải là “thừa thãi” như một số người lầm tưởng.

Hơn nữa, năng suất sinh học của cây lúa là có giới hạn, hiện nay đã gần đạt đỉnh. Vì thế, không thể có sự tăng năng suất vô giới hạn. Nếu muốn bảo đảm đủ ăn cho một số lượng người ngày một đông thêm, với số lượng đất trồng ngày một ít đi, phải chăng có người đã tưởng tượng rằng cây lúa có thể cho hạt thóc to bằng cái chén?

- Như thế, giữ đất trồng lúa trở thành một yêu cầu mang tính sống còn?

- Đúng vậy. Đất trồng lúa là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Theo tính toán, để bảo đảm đủ ăn cho khoảng 100 triệu dân vào năm 2020, chúng ta cần ít nhất 3,8 triệu héc-ta đất canh tác trồng lúa. Vì vậy, Bộ Chính trị đã giao cho Chính phủ xây dựng Đề án an ninh lương thực quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Đề án này xác định rõ là phải giữ được 3,8 triệu héc-ta đất canh tác, trong đó có 3,2 triệu héc-ta đất chuyên trồng hai vụ lúa. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn được giao phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường rà soát ở tất cả các tỉnh với mục tiêu là phải nhận diện cụ thể diện tích đất canh tác cần giữ ở mỗi địa phương. Từ đó, các địa phương phải kiểm tra lại các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo từng năm của mình để bảo đảm giữ bằng được diện tích đất canh tác theo quy định.

Lợi ích quốc gia và lợi ích địa phương: Nên giải quyết thế nào?

- Đất đai là thứ tài sản có giá trị lớn. Đây được coi là lợi thế, là vốn phát triển của các địa phương. Những vấn đề liên quan tới kế hoạch sử dụng đất chắc sẽ luôn hàm chứa những mâu thuẫn?

- Ở đây đang có vấn đề mâu thuẫn giữa lợi ích của quốc gia và lợi ích của địa phương. Quốc gia cần phải giữ được đất trồng lúa, còn địa phương thì lại muốn chuyển đổi được càng nhiều đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp, thương mại, đô thị… càng tốt, vì như thế có lợi cho thu ngân sách, cho kinh tế các địa phương và cũng có lợi cho một số cá nhân, nhóm lợi ích. Vì thế, cho đến thời điểm này sau khi đã rà soát chi tiết quy hoạch, vẫn còn có 33 địa phương có ý kiến khác với việc phân khai diện tích của hai Bộ. Mâu thuẫn lợi ích đó không bao giờ có thể hài hòa nếu không có một chính sách thỏa đáng đối với các địa phương và những hộ sử dụng đất lúa. Bởi với một cái nhìn trước mắt là càng làm nhiều lúa địa phương càng chậm phát triển và người trồng lúa thì nghèo nên chẳng ai thích giữ đất trồng lúa.

Thấy rõ được điều này, Chính phủ đã giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn soạn thảo một nghị định về chính sách quản lý và sử dụng lúa nước. Thế nhưng, vì đây là một nghị định “khó”, động chạm đến quyền lợi của các địa phương, nên chúng tôi phải “đánh vật”, làm 3 năm với mười mấy lần chỉnh sửa mà vẫn chưa được chấp thuận.

Tôi rất sốt ruột vì nghị định thì vẫn đang được soạn thảo, chỉnh sửa mà đất canh tác thì bị mất đi từng ngày. Thời gian không đợi ta.

- Xin cảm ơn đồng chí!

Quang Phương - Vũ Dung  (thực hiện)