TTXVN-Quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa hiện nay ở nước ta ngày càng nảy sinh những hệ lụy, đặc biệt về sinh kế và quyền tự chủ của người nông dân bị thu hồi đất cho việc xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị hoặc những xung đột về ô nhiễm môi trường tại các bãi rác thải từ những thành phố lớn. Vậy nguyên nhân bắt nguồn từ đâu, và cách giải quyết như thế nào cho thấu tình đạt lý?
|

|
*Gốc rễ của khiếu kiện
Theo đánh giá của Viện những vấn đề phát triển (Liên hiệp hội KH&KT Việt Nam): Có tới 70-80% số vụ khiếu kiện, thắc mắc, tranh chấp trong đời sống xã hội là liên quan đến vấn đề đất đai. Đại đa số các vụ dẫn đến khiếu kiện đông người, phức tạp, khó giải quyết cũng là liên quan đến đất đai. Qua khảo sát tại 3 địa bàn có những điểm nóng về tình trạng bức xúc của người dân bị thu hồi đất ở thành phố Hồ Chí Minh, Hưng Yên và Thái Bình cho thấy các nguyên nhân chủ yếu là giá đền bù thấp, tái định cư không hợp lý, thiếu việc làm, thu nhập giảm, dự án kéo dài nhiều năm, ô nhiễm môi trường, tệ nạn xã hội... Một trong những nguyên nhân trực tiếp, cơ bản nhất làm người dân bức xúc, không đồng tình dẫn đến khiếu kiện triền miên kéo dài là chính sách đền bù không theo cơ chế thị trường, thông thường chỉ bằng 20-40% giá thị trường. Vì cần "trải thảm đỏ mời gọi các nhà đầu tư" thực hiện mục tiêu đẩy nhanh CNH khu vực nông thôn, chính sách cho phép các dự án được quyền đấu thầu giá đất và quyết định các giá đền bù đất khu tái định cư mà không cần biết ý kiến của dân. Khi chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp, giá đất tăng lên nhiều lần thì chỉ có doanh nghiệp được lợi còn người bị thu hồi đất quá thiệt. Việc đền bù sản phẩm trên đất cũng là một vấn đề gây nhiều bức xúc. Thực tế sản phẩm trên đất nông nghiệp rất đa dạng với các loại cây, con, song khung giá đền bù không xác định rõ ràng thường làm cho nông dân thiệt thòi.
Những bức xúc, hành vi phản đối của người dân, những kiến nghị tập thể có tổ chức về chính sách thu hồi đất, ô nhiễm từ bãi rác nói chung đã phản ánh nguyện vọng chính đáng của người dân. Song việc giải quyết thường theo cách từ trên xuống, mang tính "áp đặt", chưa làm dân thoả mãn vì chưa chú ý xem xét một cách đầy đủ quyền lợi của dân chúng. Ngoài ra, sự thiếu hụt trong chính sách phát huy sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự và cộng đồng dân cư từ các địa phương trong nhiều trường hợp đã góp phần đẩy cao tính gay gắt của các xung đột về đất đai và môi trường. Thực tế, các tổ chức xã hội dân sự bị "lép vế", chưa được các tổ hức chính quyền thực sự trao quyền phản biện xã hội mà chỉ coi các tổ chức này có chức năng vận động tuyên truyền thực hiện mọi chủ trương chính sách. Vì vậy, mặc dù được tham gia trong Ban thẩm định dự án thu hồi đất với số lượng 2/17 thành viên nhưng cùng với trình độ hạn chế nên không nói lên được nguyện vọng của dân.
*Giải quyết xung đột
PGS.TS Đặng Ngọc Dinh, Viện trưởng Viện Những vấn đề phát triển cho rằng: Để giải quyết được gốc rễ của sự việc, cần điều chỉnh chênh lệch "giá cơ hội" trong thu hồi đất. Cần xây dựng một cơ chế cụ thể khuyến khích sự tham gia của XHDS và người dân trong việc ra các quyết định của các cơ quan lập chính sách đất đai và môi trường đặc biệt là các chính sách có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường, sức khoẻ của cộng đồng địa phương.
Khung giá đền bù trong chính sách thu hồi đất phục vụ ĐTH, CNH cần đưa sát với giá thị trường tại thời điểm tương ứng, theo từng loại đất sau khi chuyển đổi mục đích sử dụng. Mức giá cụ thể được định dựa trên việc khảo sát giá thị trường hiện tại và tham khảo ý kiến người dân và các tổ chức XHDS. Mức giá phải như nhau, không phân biệt các dự án xây dựng hạ tầng công ích hoặc các dự án phát triển công nghiệp. Một loạt các mức hỗ trợ sau khi thu hồi đất cần được chỉnh sửa cho phù hợp như di dời tái định cư, tìm kiếm việc làm, chuyển đổi ngành nghề để cuộc sống nông thôn ổn định và phát triển, trong đó chú ý đến các đối tượng yếu thế bởi đây là chính sách hỗ trợ rất quan trọng để người dân mất đất không bị tái nghèo hoặc bần cùng hóa.
Do những đặc điểm về kinh tế và văn hóa của Việt Nam, để sự tham gia của người dân không phải là "một thủ tục rỗng", các cộng đồng địa phương phải được phát huy vai trò và nâng cao năng lực hoạt động. Bộ máy quản lý môi trường thường xuyên đối thoại với người dân trong việc giải quyết những vấn đề bức xúc nảy sinh. Mỗi cán bộ khi triển khai các dự án cần chú ý đến tác động tiêu cực đến người dân địa phương, đề đạt với cấp trên những quyết sách vừa cân đối được những lợi ích chung của xã hội, vừa hợp lòng dân. Đội ngũ cán bộ các tổ chức XHDS, đặc biệt là lãnh đạo cần được đào tạo và nâng cao năng lực về luật pháp liên quan đến đất như chính sách thu hồi đất của địa phương, phương án thu hồi, đề bù và hỗ trợ sau khi thu hồi, pháp lệnh dân chủ cơ sở... để có khả năng tham gia một cách chủ động trong quá trình giải quyết những bức xúc của người dân.
Với những nơi bị ô nhiễm môi trường rác thải, chính quyền địa phương cung cấp nước sạch nếu thấy cần thiết cho người dân, thường xuyên phun thuốc diệt côn trùng cho khu vực dân cư quanh bãi rác, tăng chu kỳ khám chữa bệnh miễn phí cho cư dân, tăng mức hỗ trợ độc hại cho người dân. Chính quyền phường, xã phải can thiệp, không cho nhân viên bãi rác xả nước thải ra kênh mương, đặc biệt không để ô nhiễm nước ngầm - nguy cơ tiềm ẩn nguy hại cho sức khoẻ cộng đồng. Ban quản lý bãi rác đề nghị áp dụng chế độ 3R (Giảm thiểu, Tái chế, Tái sử dụng rác thải) và kêu gọi đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực công nghệ xử lý chất thải nói chung, công nghệ xử lý rác thải rắn nói riêng. Các tổ chức XHDS cần có vai trò là cầu nối để thông báo chủ trương, chính sách của Nhà nước, của chính quyền và các ban ngành chức năng và phản ánh những yêu cầu, bức xúc của cư dân lên chính quyền và các cơ quan quản lý, đồng thời tham gia tích cực vào quá trình giải quyết bức xúc xảy ra, đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm./.
Hoàng Minh Nguyệt