QĐND - Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (viết tắt là DTSĐHP), có 11 chương, 124 điều, đang được toàn xã hội quan tâm thảo luận, đóng góp ý kiến. Trong không khí chung đó, chúng tôi xin được đề cập đến vấn đề văn hóa.

Nếu văn hóa hiểu theo nghĩa là hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu… thì tất cả các chương của bản DTSĐHP đều chứa đựng các khía cạnh của văn hóa và Hiến pháp chính là một công trình văn hóa. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ xin đi vào một vài yếu tố văn hóa ở chương II và III. Khái niệm văn hóa, các vấn đề văn hóa trong bản DTSĐHP được đề cập tại các điều khoản sau: Điều 17, khoản 2, Điều 19, khoản 2, Điều 27, khoản 1, Điều 44, Điều 53, Điều 64, khoản 1, 2, 3. Riêng khái niệm “tín ngưỡng, mê tín, dị đoan” (một yếu tố văn hóa tinh thần quan trọng) được quy định tại Điều 25.

Trong quá trình đóng góp ý kiến, nhiều người đồng tình với DTSĐHP bởi nó phù hợp với tình hình xã hội hiện nay và hướng tới mục tiêu bảo đảm tính ổn định lâu dài. Riêng với các điều 44, 64… DTSĐHP khẳng định văn hóa là động lực phát triển xã hội, từ đó nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nước và xã hội chăm lo xây dựng và phát triển, giữ gìn nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là nền tảng của độc lập dân tộc. Trong quá khứ, đất nước ta đã từng bị ngoại bang cai trị hàng nghìn năm nhưng dân tộc Việt Nam không bị đồng hóa và nhờ vào sức sống, bản lĩnh văn hóa mà người Việt cùng các dân tộc anh em đã đứng lên giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc.

Điều 27, khoản 1 nêu vấn đề bình đẳng nam, nữ. Nam nữ có quyền ngang nhau về mọi mặt trong đó có quyền ngang nhau về văn hóa. Quyền “ngang nhau về văn hóa” là khá mơ hồ bởi vì ngay cả một người được tạo điều kiện để học tập, làm việc tốt vẫn có thể có một phẩm chất văn hóa kém hơn những người khác và cộng đồng. Mặt khác, nam nữ có quyền ngang nhau trong các lĩnh vực như chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và gia đình là đủ. Hơn nữa, điều 44 đã quy định các quyền liên quan đến quá trình tiếp nhận, hưởng thụ văn hóa. Đề nghị bỏ từ “văn hóa” ở chỗ này.

Điều 44 quy định quyền hưởng thụ, tham gia, tiếp cận các giá trị văn hóa. Còn một quyền rất quan trọng là quyền được sáng tạo văn hóa, hay nói cụ thể hơn là quyền được sáng tạo ra những đơn vị góp vào nền văn hóa. Sáng tạo trên nền tảng kế thừa truyền thống và tiếp thu tinh hoa của các nền văn hóa khác. Đây là quy luật phát triển văn hóa. Đề nghị bổ sung nhóm từ “quyền sáng tạo văn hóa” vào Điều 44.

Như trên đã nói, Điều 64, khoản 1 đề cập đến chức năng “tổ chức xã hội” và chức năng “động lực phát triển xã hội” của văn hóa. Do văn hóa bao trùm lên mọi hoạt động của con người nên nó có chức năng tổ chức và trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Văn hóa có tính giá trị. Xét giá trị theo thời gian, các hiện tượng văn hóa có cái lỗi thời, cái hiện thời và cái đang hình thành. Quá trình xem xét này giúp con người điều chỉnh các ứng xử, định hướng hành động, chính vì vậy nó tạo ra động lực cho sự phát triển xã hội trong trạng thái cân bằng. Điều 64, khoản 1 có nhóm từ “phát triển của đất nước”, chúng tôi thấy không cần thiết. Cho nên chỗ này nên viết gọn lại: “Văn hóa là nền tảng tinh thần, là động lực phát triển của xã hội”.

Tại Điều 66, khoản 3 từ "văn hoá" lại được sử dụng với một nghĩa khác: “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng. Người khuyết tật và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập văn hóa và học nghề phù hợp”. Từ “văn hóa” trong nhóm từ “học tập văn hóa” hiểu là trình độ học vấn. Thực tế là bấy lâu nay, chúng ta dùng chưa chính xác từ này trong các bản lý lịch (mục “trình độ văn hóa” thay vì dùng “học lực” hoặc “trình độ học vấn”). Dĩ nhiên văn hóa có tính kế thừa và thực hiện chức năng giáo dục, nhưng đó là quá trình học trong cuộc sống gia đình và xã hội, học qua sự trải nghiệm thực tế qua ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội chứ không phải học trong nhà trường như Điều 66 đang đề cập. Như vậy, khoản 3, Điều 66 đề nghị chỉnh sửa như sau: “Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để phát triển tài năng. Người khuyết tật và những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được Nhà nước và xã hội tạo điều kiện học tập để có tri thức cơ bản và học nghề phù hợp”.

TS TRẦN VĂN NAM - Khoa KHXH&NV, Trường Đại học Cần Thơ