Đến nay, sau năm năm thực hiện Quyết định 80/2002/QĐ-CP ngày 24-6-2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc “Tiêu thụ hàng hóa nông sản qua hợp đồng”, quan hệ giữa nhà nông với doanh nghiệp chế biến hàng hóa xuất khẩu đã có những thuận lợi nhất định. Người sản xuất định hướng được sản xuất nhằm tạo ra những nông sản hàng hóa đáp ứng được nhu cầu của thị trường, tiếp cận kỹ thuật công nghệ tiên tiến, chuyển giao mô hình mới, hỗ trợ giống vật nuôi cây trồng được giữ giá ổn định, an tâm đầu tư sản xuất, có thu nhập cao; còn doanh nghiệp có vùng nguyên liệu giá cả đầu vào bình ổn, có định hướng lâu dài… tạo nên sự liên kết giữa người sản xuất và tiêu thụ. Ngoài ra, người sản xuất được hưởng một số ưu đãi đến đất đai, đầu tư, tín dụng. Vì vậy sản xuất hàng hoá nông sản theo hợp đồng nhằm giúp người sản xuất nông sản tiếp cận với thị trường và đáp ứng nhu cầu của thị trường, được xem là một trong những phương thức kinh doanh tiên tiến trong sân chơi WTO, vận hành theo cơ chế thị trường.

Thu hoạch mía (ảnh internet)

Ở đồng bằng sông Cửu Long, các nhà máy đường triển khai thực hiện Quyết định về bao tiêu hàng hoá nông sản của nông dân thông qua hợp đồng khá tốt, diện tích, hợp đồng ký với nông dân năm sau cao hơn năm trước. Chẳng hạn, Nhà máy đường Sóc Trăng năm 2003 là 1.000ha, năm 2006 là 4.000ha, năm 2007 là 6.000ha với vốn đầu tư cho nông dân hơn 10 tỷ đồng. Ngoài ra được nhà máy đầu tư giống có năng suất, chất lượng đường cao, phân bón, được bao tiêu với giá sàn ổn định… nông dân an tâm sản xuất có thu nhập ổn định.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đang phát sinh một số trở ngại khiến nhiều mục tiêu đề ra chưa thực hiện được. Phương thức canh tác còn manh mún, rời rạc, quy mô sản xuất chủ yếu dựa vào nông hộ. Công tác quy hoạch vùng nguyên liệu còn chậm; chưa hình thành những vùng nông sản chuyên canh. Hợp tác xã, tổ hợp tác kinh tế… chưa trở thành cầu nối thực sự giữa nhà nông với doanh nghiệp. Sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, tỷ suất lợi nhuận trên vốn còn thấp.

Không ít doanh nghiệp lạm dụng thế độc quyền như tự soạn thảo hợp đồng, nông dân ít khi được tham gia soạn thảo văn bản hợp đồng. Nội dung hợp đồng thường dài, từ ngữ khó hiểu, chưa phù hợp với phần đông nông dân hiện nay. Một số doanh nghiệp bao tiêu nguyên liệu gây sức ép với nông dân, không mua hết sản phẩm, không thực hiện đúng cam kết về giá, tiêu chuẩn chất lượng hoặc chưa sòng phẳng và chậm trễ trong mua nguyên liệu và thanh toán với nông dân. Thực tế cho thấy, nếu năm nào thị trường tiêu thụ thuận lợi, giá tốt thì doanh nghiệp bao tiêu thực hiện đúng những điều khoản đã cam kết. Còn nếu thị trường tiêu thụ gặp khó khăn thì doanh nghiệp thường tìm cách gây phiền phức với nông dân. Thêm vào đó, việc bao tiêu hàng hoá nông sản còn rất hạn chế về số lượng, chủng loại, diện tích cùng với việc triển khai ký kết hợp đồng còn chậm, đã ảnh hưởng đến thời vụ, năng suất, sản lượng. Trong hai năm 2005-2006, các nhà máy chế biến thủy sản xuất khẩu đã ký hợp đồng bao tiêu cá tra, ba sa nuôi hầm tại các tỉnh ven sông Hậu. Khi được giá, các nhà máy cạnh tranh đầu tư từ vốn cải tạo ao nuôi, con giống đến thức ăn. Khi giá cá giảm, các nhà máy tìm mọi cách làm khó với nông dân đủ kiểu như đến ngày thu hoạch gọi năm lần bảy lượt chẳng thấy bóng dáng công nhân đến thu hoạch…

Vẫn còn tình trạng khá phổ biến là nhiều nông dân mặc dù ký hợp đồng nhận đầu tư ứng trước của các doanh nghiệp, nhưng khi thị trường biến động về giá, họ sẵn sàng bán nông sản cho tư thương hoặc doanh nghiệp khác. Hay một số nông dân cố tình bán ra ngoài để lẩn tránh việc thanh toán các khoản đầu tư ứng trước. Việc hỗ trợ đầu tư của doanh nghiệp và bao tiêu sản phẩm cho nông dân được địa phương đồng tình, tích cực hưởng ứng. Nhưng khi doanh nghiệp gặp khó khăn trong thu hồi vốn, thu mua lại sản phẩm, chính quyền sở tại can thiệp không đến nơi đến chốn, thậm chí còn gây thêm khó khăn. Nguyên nhân là nhận thức của nông dân về hợp đồng kinh tế còn hạn chế, chưa quen với phương thức sản xuất mới, chưa thấy được tính pháp lý của hợp đồng. Người sản xuất chưa quan tâm cộng tác chặt chẽ với doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của hàng hoá nông sản…

Theo PGS, TS Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng Trường cán bộ quản lý nông nghiệp nông thôn II tại TP Hồ Chí Minh, thì: “Hợp đồng bao tiêu nông sản giữa doanh nghiệp với nông dân không những bao gồm những điều khoản các bên cùng thỏa thuận mà còn bao gồm cả những điều khoản mà các bên không thỏa thuận nhưng phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Hiện tại các hợp đồng này có rất nhiều điều khoản nhưng thiếu điều khoản trách nhiệm của các bên khi tham gia ký hợp đồng”.

Bao tiêu hàng hoá nông sản thông qua hợp đồng kinh tế là một giải pháp hữu hiệu để phát triển sản xuất hàng hoá nông sản ở nông thôn, bảo đảm tốt đầu vào cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Để khắc phục các tồn tại nêu trên hình thành cơ sở vững chắc cho việc ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản lâu dài phù hợp với cơ chế thị trường, cần có những quy định hướng dẫn cụ thể phân định trách nhiệm rõ ràng. Theo đó, tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm gây ra theo pháp luật hiện hành về hợp đồng, giúp mỗi bên tham gia hợp đồng thực hiện đúng trách nhiệm, vai trò của mình vì lợi ích chung, bền vững. Nhưng trước hết doanh nghiệp và nông dân cần giữ chữ “tín” dần dần tháo gỡ những vấn đề tồn tại để có tiếng nói chung cùng nhau phát triển.

PHƯƠNG NGHI