Tổng thống B.Ô-ba-ma đã “vượt Đại Tây Dương” trong chuyến công du đầu tiên trên cương vị người đứng đầu nước Mỹ. Chọn châu Âu cho chuyến “vượt biển” lần này là cơ hội để ông Ô-ba-ma chứng minh trên thực tế những thay đổi trong chính sách của Oa-sinh-tơn với châu lục này có tầm quan trọng hàng đầu đối với nước Mỹ.
Dưới thời người tiền nhiệm Bu-sơ, “chủ nghĩa đơn phương” nổi lên sau sự kiện 11-9 đã dẫn Mỹ tới cuộc chiến I-rắc mà không thèm “đếm xỉa” đến quan điểm của bất cứ ai, kể cả những người đồng minh thân cận bên kia đại dương. Điều này khiến châu Âu bị sốc và mối quan hệ giữa hai bờ Đại Tây Dương trở nên băng giá trong một thời gian dài. Bước vào Nhà Trắng, ông Ô-ba-ma đã không ít lần đề cập đến việc Mỹ từ bỏ “chủ nghĩa đơn phương” để tiến tới một “thời đại lắng nghe” và tăng cường quan hệ với các đồng minh truyền thống như Pháp, Đức, Anh… cũng như với những “người bạn mới” đến từ Đông Âu.
Chuyến thăm lần này với một lịch trình dày đặc, từ việc tham dự hàng loạt hội nghị quan trọng của khối quân sự NATO và Liên minh châu Âu (EU) đến các cuộc tiếp xúc song phương với những nguyên thủ châu Âu như Thủ tướng Anh, Tổng thống Pháp, Thủ tướng Đức…, chính là cơ hội để ông Ô-ba-ma chứng tỏ cho cả châu Âu thấy rằng ông khác với người tiền nhiệm Bu-sơ. Vị Tổng thống Mỹ đương nhiệm sẽ phải nỗ lực lấy lại tình cảm của các đồng minh bên kia bờ Đại Tây Dương, để hai bên có thể hoàn toàn làm lành với nhau sau sự cố nghiêm trọng của cuộc chiến I-rắc.
Nhưng vì sao ông Ô-ba-ma cần kíp phải cải thiện quan hệ với đồng minh cũ châu Âu?
Hơn ai hết, người đứng đầu Nhà Trắng có thể cảm nhận rõ “chủ nghĩa đơn phương” đã làm Mỹ bị cô lập trong nhiều chính sách. Đơn cử như trường hợp I-rắc. Khi Mỹ phát động cuộc chiến I-rắc năm 2003, có 31 nước tham gia lực lượng liên quân tại I-rắc, nhưng đến thời điểm này chỉ còn 4 nước là Mỹ, Anh, Ô-xtrây-li-a và Ru-ma-ni, trong đó Anh và Ô-xtrây-li-a đã đặt ra những thời hạn rút quân.
Mặt khác, ông Ô-ba-ma hiểu rằng, trọng tâm cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ mà ông quyết định chuyển sang mặt trận Áp-ga-ni-xtan sẽ không thể thành công nếu không có sự giúp đỡ về chính trị và quân sự của các đồng minh châu Âu. Dưới thời ông Bu-sơ, dù NATO đã tiếp quản vai trò “vãn hồi hòa bình” ở Áp-ga-ni-xtan nhưng các đồng minh châu Âu của Mỹ lại không mấy mặn mà với kế hoạch tăng quân của Oa-sinh-tơn. Thậm chí, Đức-một thành viên lớn của NATO-còn không muốn điều động binh lính của mình đến các tỉnh đang có giao tranh ác liệt ở miền nam Áp-ga-ni-xtan. Giờ đây, ông Ô-ba-ma sẽ phải thuyết phục các đồng minh châu Âu gia tăng trợ giúp vì một mình Mỹ không thể kham nổi gánh nặng chi phí và nhân sự quá lớn khi phải cùng lúc trải mình trên hai mặt trận I-rắc và Áp-ga-ni-xtan, nhất là trong bối cảnh kinh tế suy thoái như hiện nay.
Nhưng, gần với châu Âu ở mức nào để không làm mất lòng nước Nga lại là việc rất khó. Oa-sinh-tơn đang muốn xây dựng một mối quan hệ mới với Nga và ông Ô-ba-ma sẽ phải giải quyết việc đó trong cuộc gặp lần đầu tiên với Tổng thống Nga Mét-vê-đép bên lề Hội nghị thượng đỉnh G-20. Có điều, quan hệ giữa Nga với EU, NATO và các nước Đông Âu gần đây không phẳng lặng, xuất phát từ kế hoạch “đông tiến” của NATO và EU, việc triển khai hệ thống tên lửa đánh chặn của Mỹ trên lãnh thổ Ba Lan và Séc cùng những tranh cãi xung quanh vấn đề khí đốt.
Nước Mỹ không thể coi nhẹ sự “hữu dụng” của Nga-đối thủ của thời Chiến tranh Lạnh. Nước Nga sau thời gian dài “ngủ đông” đã trở lại diễn đàn thế giới với tiềm lực lớn về quân sự và kinh tế. Một thập kỷ phát triển mạnh cùng với “con bài” khí đốt lợi hại đã đem đến cho nước Nga tư thế mới, chứ không còn ngồi “chiếu dưới” như cách đây 10 năm về trước. Giờ đây, hàng loạt các vấn đề mà Oa-sinh-tơn quan tâm như chống khủng bố, dập ngọn lửa xung đột ở Trung Đông, tháo ngòi nổ cho chương trình hạt nhân của I-ran và Triều Tiên... đều đòi hỏi phải có sự hợp tác đa phương, trong đó có Nga, chứ mình Mỹ không đủ sức ôm đồm hết mọi chuyện.
Đặc biệt, sau khi Cư-rơ-gư-xtan không cho Mỹ mượn căn cứ không quân Ma-nát để hỗ trợ đưa hàng hóa và vũ khí của NATO vào Áp-ga-ni-xtan và con đường tiếp vận cho Áp-ga-ni-xtan qua lãnh thổ Pa-ki-xtan bị Ta-li-ban phong tỏa, thì cái “gật đầu” của Nga cho phép Mỹ và NATO mượn đường tiếp vận là vô cùng quan trọng. Điều đó đồng nghĩa với sự thành công của cuộc chiến chống khủng bố ở Áp-ga-ni-xtan không thể thiếu vai trò quan trọng của Nga.
Chính vì thế, nếu như Mỹ nghiêng về châu Âu, tiếp tục đẩy nhanh việc mở rộng NATO, tiếp tục triển khai hệ thống phòng thủ tên lửa như thúc giục của một số nước thuộc Đông Âu và Liên Xô trước đây thì chắc chắn sẽ làm mất lòng Nga. Nhưng ngược lại, nếu Mỹ ngừng các động thái ủng hộ thì sẽ bị các đồng minh châu Âu coi là thất hứa. Séc và Ba Lan đang rất bực bội khi Mỹ cho biết có thể xem xét lại việc triển khai lá chắn tên lửa ở các nước này. U-crai-na và Gru-di-a cũng tỏ ra không hài lòng trước thái độ lấp lửng của Mỹ về vấn đề Nam Ô-xê-ti-a và Áp-kha-di-a. Châu Âu giờ đang lo ngại họ không còn là mối ưu tiên hàng đầu trong chính sách của Mỹ dưới thời Ô-ba-ma.
Tất cả những chuyện trên đã đặt Mỹ vào thế kẹt mà Tổng thống Mỹ phải giải quyết trong chuyến đi. Nhưng xem ra thì ông Ô-ba-ma không muốn làm mất lòng bên nào vì cả châu Âu và Nga đều nằm trong những mối lợi lớn của nước Mỹ. Những cuộc thương thảo xoay quanh trục quan hệ Nga-Mỹ-châu Âu sẽ làm chuyến công du đầu tiên của ông Ô-ba-ma gặp vô vàn khó khăn.
THU TRANG