QĐND - Một nhóm cựu quan chức cấp cao của Mỹ cùng các chuyên gia, bao gồm cả một số người mới đây đã rời bỏ chính quyền của Tổng thống B.Ô-ba-ma, vừa ra một báo cáo đánh giá gây ngạc nhiên về chính sách đối ngoại của ông Ô-ba-ma đối với I-ran. Trong báo cáo, các cựu quan chức Mỹ kêu gọi Tổng thống Ô-ba-ma cân nhắc tính hiệu quả của việc áp đặt các lệnh trừng phạt khắc nghiệt nhằm khuất phục I-ran…
 |
|
Bị ảnh hưởng bởi cấm vận, thực phẩm trở thành mặt hàng xa xỉ tại I-ran. Ảnh: Getty Images
|
Cảnh báo hậu quả khôn lường
Trong báo cáo thuộc khuôn khổ “Dự án I-ran”, các cựu quan chức ngoại giao cấp cao và các chuyên gia khuyến cáo chính sách cấm vận thay vì thúc đẩy giải pháp ngoại giao của Mỹ đối với Nhà nước Hồi giáo có thể mang lại hậu quả khôn lường. Vì theo họ, việc gia tăng sức ép “có thể gieo hạt giống cho sự thù ghét lâu dài giữa người I-ran và Mỹ”.
Những chỉ trích trên được đưa ra khi cả I-xra-en và Quốc hội Mỹ kêu gọi chính quyền ông B.Ô-ba-ma đặt ra một giới hạn thời gian rõ ràng cho các vòng đàm phán về hạt nhân của I-ran. Và nếu cần thiết, thúc đẩy các lệnh trừng phạt tài chính và dầu mỏ vốn đã khiến giá trị đồng tiền I-ran sụt giảm mạnh và lạm phát gia tăng.
Ông Thô-mát Pích-cơ-rinh (Thomas Pickering), một trong những quan chức ngoại giao cấp cao của Mỹ tin rằng, sự cân bằng giữa giải pháp cấm vận và ngoại giao đã bị làm chênh lệch. Trong một cuộc phỏng vấn, ông Pích-cơ-rinh cho rằng, ông Ô-ba-ma nên xem xét lại chương trình tấn công bí mật chống lại I-ran, trong đó có việc ngầm phá hoại hệ thống máy tính tại các cơ sở hạt nhân của nước này. Ông Pích-cơ-rinh đã ký tên vào bản báo cáo nói trên.
Các quan chức khác cùng tham gia ký vào bản báo cáo là ông H.Ha-min-tơn (H. Hamilton), người từng phụ trách ủy ban về vụ tấn công khủng bố 11-9-2001 và tham gia Ban cố vấn Tình báo của ông Ô-ba-ma; bà An-nê Ma-ri Xláp-tơ (Anne-Marie Slaughter), Giám đốc Văn phòng hoạch định chính sách ngoại giao trong suốt nhiệm kỳ đầu tiên của ông Ô-ba-ma; ông Ri-an C. Cróc-cơ, người từng đảm nhận nhiều vị trí đại sứ quan trọng của Mỹ. Ngoài ra, còn có cựu Thượng nghị sĩ Ri-chác G.Lu-ga, cố vấn đầu tiên cho ông Ô-ba-ma ở thượng viện; cựu Giám đốc Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) dưới thời Tổng thống Gioóc-giơ Bu-sơ Mai-cơn Hay-đen (Michael Hayden) và nguyên Cố vấn An ninh quốc gia Mỹ Dơ-bích-ni-ép Bơ-dê-din-xki (Zbigniew Brzezinski).
Hướng tiếp cận kép
Ở trung tâm của những bất đồng về chiến lược của Mỹ đối với I-ran hiện đang nổi lên một số câu hỏi. Đó là liệu việc gia tăng các lệnh cấm vận có phải chỉ càng khiến cho lập trường của I-ran cứng rắn hơn? Hay có thể làm cho người I-ran tin rằng, cái giá của việc tiếp tục chương trình hạt nhân của đất nước là quá đắt như ông Ô-ba-ma từng nêu hay không?
Thực tế cho thấy, trong hơn 30 năm thực thi chính sách cấm vận chống I-ran, Mỹ vẫn chưa thể đạt được các mục tiêu lớn ở I-ran, đó là thay đổi chế độ “không hợp khẩu vị” và buộc I-ran từ bỏ chương trình hạt nhân. Và sự thực là mặc dù có nhiều bằng chứng khẳng định các lệnh trừng phạt đang gây tổn hại cho I-ran, nhưng không có dấu hiệu nào chứng tỏ họ sẽ thay đổi chiều hướng của chương trình hạt nhân đang theo đuổi. Hơn nữa, dường như các lệnh trừng phạt càng giúp I-ran chiếm thế thượng phong trên bàn đàm phán khi họ bất chấp các lệnh cấm vận và đặt những điều kiện để đàm phán với Mỹ và phương Tây.
Theo cách nói của giới phân tích, hiệu quả của chính sách cấm vận của Mỹ vẫn chưa được khẳng định hay nói cụ thể là “hiệu quả chưa rõ ràng”. Phần vì chính sách này có tính chất hai mặt, không chỉ bất lợi cho I-ran mà cả phía Mỹ cùng các nước châu Âu ủng hộ cũng bị tổn hại phần nào. Các công ty của Mỹ, của châu Âu cũng bị ảnh hưởng bởi các lệnh cấm vận I-ran của Mỹ và các đồng minh. Thế nên Mỹ không thể mạnh tay hết sức với I-ran trong các đòn cấm vận mà thường vẫn để một “khe hẹp” làm lối thoát.
Hơn nữa, I-ran đang ngày càng chứng tỏ vai trò nổi bật trên bản đồ an ninh ở khu vực Trung Đông và Nam Á-nơi những lợi ích an ninh quốc gia và đối ngoại của Mỹ không thể xem nhẹ. I-ran là quốc gia có tiếng nói trọng lượng trong vấn đề an ninh ở quốc gia láng giềng I-rắc và có ảnh hưởng quan trọng ở Áp-ga-ni-xtan, hai địa bàn đã làm Mỹ hao tổn không biết bao nhiêu tiền của và công sức.
Bởi thế, mỗi lần ra đòn cấm vận hay có bất kỳ động thái cứng rắn nào với I-ran, Oa-sinh-tơn cũng không thể không cân nhắc lợi hại.
Đây không phải là lần đầu tiên chính sách cấm vận I-ran của Mỹ bị đặt dấu chấm hỏi về tính hiệu quả. Trước đó, đã có nhiều lời kêu gọi Mỹ thay đổi chính sách đối với I-ran, thúc đẩy đàm phán ngoại giao thay vì các biện pháp trừng phạt cứng rắn. Lần này, các cựu quan chức cấp cao Mỹ kêu gọi cần có những cuộc đối thoại trực tiếp với I-ran và tìm cách tiếp cận khác trong vấn đề này.
Tuy nhiên, Tổng thống Ô-ba-ma và các quan chức ngoại giao Mỹ đã khẳng định những biện pháp cấm vận là để hỗ trợ giải pháp ngoại giao. Bà Gien Pxa-ki (Jen Psaki), Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố, chính quyền Mỹ sẽ kiên trì theo đuổi hướng tiếp cận này. Bà Gien Pxa-ki cho biết, cách tiếp cận kép duy trì trừng phạt nghiêm khắc cùng với các cuộc đàm phán nghiêm túc là hướng tiếp cận đúng đắn. Tuy nhiên, theo bà, thực hiện các bước tiếp theo và thúc đẩy tiến trình là trách nhiệm thuộc về I-ran.
Trên thực tế, ngoài chính sách cấm vận công khai chống I-ran, Mỹ còn áp dụng một số chính sách khác nhằm đạt được các mục tiêu chính trị của mình. Trong đó bao gồm chiến dịch tuyên truyền chống phá I-ran từ bên ngoài hay các chiến dịch bí mật tung gián điệp vào phá hoại tình hình nội bộ I-ran. Không phải ngẫu nhiên, sau những bất ổn của cuộc bầu cử tổng thống I-ran tháng 6-2009, I-ran đã bắt giữ hàng loạt công dân Mỹ và phương Tây “đi lạc” ở I-ran.
MAI NGUYÊN