Khách hàng rất ưa chuộng các sản phẩm may mặc của Vinatex.

QĐND - Sau hơn một năm Bộ Chính trị phát động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, hàng hóa trong nước đã được người dân đón nhận tích cực. Hàng Việt Nam trong các siêu thị, các chợ chiếm tỷ lệ cao, doanh số bán hàng tăng mạnh. Tuy nhiên, trong bức tranh tươi sáng ấy, vẫn còn những mảng màu tối.    

Hàng may mặc, thực phẩm-vi vu diều no gió 

Hàng may mặc Việt Nam có chất lượng tốt, phù hợp với túi tiền người tiêu dùng nên được người tiêu dùng hào hứng đón nhận. Các cửa hàng mang thương hiệu Việt Tiến, May 10… xuất hiện ngày càng nhiều. Ông Lê Quốc Ân, Chủ tịch Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cho biết, các doanh nghiệp dệt may đã chú trọng phát triển thị trường nội địa, nâng cao chất lượng sản phẩm, thương hiệu cùng mạng lưới bán lẻ. Hàng may mặc nội địa đã bắt đầu đẩy lùi hàng giá rẻ, chất lượng kém của nước ngoài, đã chiếm được trên 70% thị phần thị trường nông thôn. Một số nhà sản xuất lớn như Việt Tiến, May 10 đã bắt đầu quan tâm và đã xây dựng các dòng sản phẩm phù hợp với thị hiếu, nhu cầu và khả năng của các đối tượng khách hàng. Ví dụ, Việt Tiến đã có thương hiệu Việt Long với sản phẩm có mức giá hợp lý cho thị trường nông thôn.

Không chỉ cạnh tranh tốt ở phân khúc hàng bình dân, mà với phân khúc hàng xa xỉ, cao cấp, sản phẩm may mặc của Việt Nam cũng đã có chỗ đứng vững chắc. Một số nhãn hiệu như Vera, WOW, Sanciaro, Manhattan, Vee Sandy, An Phước, Thái Tuấn… cạnh tranh ngang ngửa tại thị trường nội địa với Louis Vuiton, Esprit, Mango, Gucci…

Tương tự hàng dệt may, các ngành hàng thực phẩm, đồ uống, hóa mỹ phẩm của Việt Nam cũng thành công. Các thương hiệu như Vinamilk, Nutifood Việt Nam, Café Trung Nguyên… là những thương hiệu mạnh, được phần lớn người tiêu dùng ưa chuộng.  

Theo thống kê, trên thị trường Việt Nam hiện có khoảng hơn 300 sản phẩm với nhiều công ty, thương hiệu ngoại nổi tiếng như: Dutch Lady, New Zealand, Abbott... Thế nhưng, thị phần của Vinamilk vẫn chiếm khoảng 38% thị trường sữa Việt Nam, duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu trong nước ở mức bình quân 21,2%/năm. Với cơ cấu thị trường nội địa chiếm khoảng 80 đến 90% tổng doanh thu, Vinamilk luôn chú trọng đầu tư vào những sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Việt Nam.

Tương tự Vinamilk, Nutifood Việt Nam cho biết sau một năm tích cực hướng về thị trường nội địa, tăng cường bán hàng, quảng bá sản phẩm, xây dựng đại lý ở nông thôn, doanh thu của công ty đã tăng gấp đôi năm trước.  

Lao đao hàng điện tử 

Tiến sĩ Trần Quang Hùng, Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam buồn rầu cho biết, đúng như lo ngại, một năm qua, tình hình kinh doanh của ngành hàng điện tử nội địa vẫn giẫm chân tại chỗ. “Chỉ cần đi một vòng các siêu thị, trung tâm điện máy lớn sẽ cảm nhận ngay được sức kháng cự yếu ớt của hàng điện tử Việt Nam trước sự ồ ạt xâm lấn của hàng ngoại”. Ông Trần Quang Hùng than thở. Năm ngoái, hàng điện tử Việt Nam “mang tiếng” là xuất khẩu được khoảng 3 tỷ USD, nhưng thực chất là sản phẩm do các thương hiệu nước ngoài đặt cơ sở tại Việt Nam sản xuất như Samsung, JVC... còn các sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam là rất ít. “Hàng điện tử Việt Nam đang đuối sức trong cuộc chiến giành lại thị phần nội địa của mình”-Ông Hùng lo ngại.  

Lượng sức mình không cạnh tranh nổi thị trường các đô thị, các doanh nghiệp điện tử Việt Nam đang dò dẫm tìm về thị trường nông thôn. Tuy nhiên, muốn chiếm lĩnh thị trường nông thôn cũng không dễ bởi sẽ phải đụng độ với đối thủ sừng sỏ là hàng điện tử Trung Quốc giá rẻ đang tràn ngập tại đây. Nội lực đã yếu nhưng sự liên kết, phối hợp, chia sẻ thông tin giữa doanh nghiệp điện tử Việt Nam hết sức lỏng lẻo. Các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá hàng hóa của các doanh nghiệp chủ yếu mang tính lẻ tẻ, tự phát, ít được sự hỗ trợ, liên kết trên quy mô lớn. “Cái khó là các mặt hàng điện tử Việt Nam cứ na ná nhau, doanh nghiệp nào cũng bán ti vi, đầu đĩa, nồi cơm điện… nên nếu phối hợp tổ chức một hội chợ chung thì hóa ra lại “đá” lẫn nhau”. Ông Trần Quang Hùng phân tích. Mang tâm lý ấy, nên các doanh nghiệp điện tử giấu nhẹm, không muốn chia sẻ thông tin thị trường cho các đồng nghiệp.

Hàng điện tử Việt Nam hiện nay không có thương hiệu mạnh. Vốn ít, công nghệ lạc hậu, trình độ công nhân hạn chế, chịu sự cạnh tranh gay gắt từ phía cả đối thủ ngoại, lẫn từ chính anh em nội địa… Đó là những thách thức lớn, cần lời giải cả từ phía doanh nghiệp lẫn sự tiếp sức từ các chính sách vĩ mô.

Gà cùng một mẹ chớ hoài… 

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” là một cú hích về lòng tự hào, trách nhiệm đối với dân tộc, đồng bào, không chỉ từ phía người tiêu dùng mà còn đối với các doanh nghiệp. Để tạo nên sức mạnh, ngoài việc tự tăng cường nội lực, nâng cao chất lượng sản phẩm, các doanh nghiệp Việt đã nhắc nhiều tới sức mạnh từ sự liên kết. Nhiều buổi thảo luận, tọa đàm tìm hướng liên kết đã được tổ chức. Các ký kết hợp tác toàn diện giữa các doanh nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều. 

Liên kết giữa doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp phân phối thể hiện qua việc hiện hầu hết các siêu thị lớn của Việt Nam đều tuyên bố tỷ lệ hàng Việt chiếm từ 70% đến 95% hàng hóa được họ bày bán.

Ông Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Sài Gòn Co.op Mart chi nhánh tại Hà Nội cho biết trong hệ thống Sài Gòn Co.op Mart có hơn 90% là hàng Việt Nam. Nguyên nhân chủ quan là có sự ưu tiên cho hàng Việt, nhưng khách quan cũng là do nhu cầu của người tiêu dùng đối với hàng Việt tăng. Vì thế, mặc dù thiên vị hàng Việt nhưng tăng trưởng bình quân về doanh thu của Sài Gòn Co.op Mart không hề giảm mà còn tăng đến 40%.  

Tuy nhiên, theo ông Dũng, nhà sản xuất và nhà phân phối trong nước chưa có nhiều cơ hội tiếp xúc, tìm hiểu, thắt chặt mối quan hệ. Ông mong muốn trong thời gian tới các cơ quan quản lý, tổ chức, hiệp hội sẽ là trung gian tạo ra nhiều cơ hội gặp gỡ, đối thoại hơn nữa để nhà sản xuất và phân phối trong nước “mở lòng” hơn với nhau.

Bà Dương Thanh Thủy, chủ thương hiệu Miss Áo dài, một doanh nghiệp phân phối chuyên kinh doanh hàng mỹ nghệ cho biết, vẫn còn có sự chèn ép lẫn nhau giữa “anh em một nhà”, khi nhà phân phối nội địa cậy mình có mặt bằng buôn bán nên ép nhà sản xuất nội địa những điều khoản bất lợi. Theo bà Thủy, dù thực chất lợi ích của hai bên gắn kết chặt chẽ với nhau, nhưng họ chưa có nhận thức sâu sắc về điều này, hoặc chưa chuyển hóa nhận thức thành hành động cụ thể.

Bài và ảnh: Hồ Quang Phương

Bài 2: Khách hàng đã thực sự là "thượng đế"?