Đại tướng PHẠM VĂN TRÀ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là QUTƯ), nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng:

Cụ thể hóa lý luận quân sự, quốc phòng của Đảng trong điều kiện mới

Có thể thấy, quá trình phát triển tư duy lý luận quân sự, quốc phòng (QS, QP) của Đảng là một quá trình vận động liên tục, vừa kế thừa, vừa đổi mới, vừa mang tính ổn định, vừa chứa đựng các yếu tố đột phá. Những tư duy này tiếp tục giữ vai trò định hướng chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD vững mạnh, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Trong bối cảnh thế giới và khu vực tiếp tục có những biến động sâu sắc, phức tạp, việc tiếp tục tổng kết, bổ sung, phát triển tư duy lý luận QS, QP không chỉ là nhiệm vụ khoa học thuần túy mà là yêu cầu chính trị, yêu cầu chiến lược gắn trực tiếp với năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong tình hình mới.

Đại tướng Phạm Văn Trà. 

Để tiếp tục bổ sung, phát triển tư duy lý luận QS, QP, Quân đội cần tiếp tục quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa tư duy lý luận QS, QP của Đảng trong điều kiện mới, coi đây là nền tảng tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng nền QPTD và xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Việc phát triển tư duy lý luận phải gắn chặt với tổng kết thực tiễn, nhất là thực tiễn xử lý các tình huống QS, QP, an ninh phức tạp, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia-dân tộc trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt.

Tiếp tục nghiên cứu, làm sâu sắc hơn nội hàm tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, chuyển hóa thành các định hướng cụ thể trong xây dựng lực lượng, tổ chức thế trận, nghệ thuật quân sự và phối hợp liên ngành, bảo đảm vừa giữ vững nguyên tắc, vừa linh hoạt về sách lược, không để bị động, bất ngờ về chiến lược trong mọi tình huống. Quá trình triển khai các nghị quyết, chiến lược về QS, QP, cần đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp và cán bộ làm công tác tham mưu chiến lược.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế kết hợp QS, QP với an ninh, đối ngoại và phát triển kinh tế-xã hội theo Nghị quyết Đại hội XIII và XIV của Đảng, bảo đảm QS, QP thực sự là trụ cột giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới.

*Thượng tướng, PGS, TS TRẦN VIỆT KHOA, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng:

Nội hàm xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại

Hiện nay, nội hàm xây dựng nền QPTD vững mạnh, hiện đại cần được nhận thức trên một số phương diện sau:

Thứ nhất, xây dựng tiềm lực quốc phòng vững mạnh, đồng bộ, có chiều sâu. Nội hàm vấn đề này thể hiện: Tiềm lực chính trị-tinh thần là nền tảng cốt lõi, quyết định. Tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; tăng cường giáo dục quốc phòng và an ninh; xây dựng “thế trận lòng dân”; chủ động đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh thông tin.

Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa.  

Về tiềm lực kinh tế, phải gắn chặt phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng; quy hoạch phát triển vùng, ngành, kết cấu hạ tầng lưỡng dụng; nâng cao năng lực dự trữ quốc gia, an ninh năng lượng-lương thực-an ninh chuỗi cung ứng; phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn, tạo nền tảng cho hiện đại hóa quốc phòng.

Về tiềm lực khoa học-công nghệ, phải ưu tiên công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, cảm biến-điều khiển, vật liệu mới, an ninh mạng, điện tử-viễn thông quân sự; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phục vụ quốc phòng.

Về tiềm lực quân sự, phải xây dựng LLVT nhân dân vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu cao; kết hợp giữa tinh, gọn, mạnh với hiện đại hóa có trọng tâm, trọng điểm; nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; xây dựng lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp.

Thứ hai, xây dựng thế trận QPTD vững chắc, liên hoàn. Nội hàm chủ yếu, gồm: Xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc; kết hợp chặt giữa thế trận quân sự với thế trận chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Bố trí thế trận phù hợp từng vùng chiến lược; phát triển hạ tầng lưỡng dụng, công trình phòng thủ, hệ thống thông tin chỉ huy, cảnh báo sớm, bảo đảm khả năng chuyển trạng thái nhanh từ thời bình sang thời chiến.

Thứ ba, xây dựng lực lượng QPTD rộng khắp, nòng cốt vững mạnh, hiện đại. Nội hàm hiện đại hóa thể hiện ở việc nâng cao chất lượng tổng hợp của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; tổ chức lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ theo hướng vững mạnh, phù hợp đặc điểm địa bàn, ngành nghề; xây dựng nguồn nhân lực quốc phòng chất lượng cao; hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa quân sự, công an, đối ngoại, các ngành, các cấp; nâng cao năng lực “quản trị khủng hoảng”, xử lý tình huống phức tạp, không để bị động, bất ngờ. Ngoài ra, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật và năng lực quản lý nhà nước về quốc phòng; kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

*GS, TS TẠ NGỌC TẤN, nguyên Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương:

Mục tiêu, yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh

Hệ mục tiêu xây dựng nền QPTD vững mạnh theo tinh thần Đại hội XIV của Đảng, gồm: Bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia-dân tộc; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng; chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững và củng cố “thế trận lòng dân”-nền tảng vững chắc nhất của quốc phòng. Hệ mục tiêu này tạo thành một chỉnh thể thống nhất, trong đó lợi ích quốc gia-dân tộc là tối cao, chủ quyền lãnh thổ là cốt lõi, chế độ và nhân dân là nền tảng, phương thức bảo vệ là chủ động, còn “thế trận lòng dân” là yếu tố quyết định.

GS, TS Tạ Ngọc Tấn. 

Từ hệ mục tiêu trên, các yêu cầu cơ bản trong xây dựng nền QPTD là: Trước hết, đổi mới nhận thức và tư duy chiến lược, chuyển mạnh từ bị động sang chủ động, từ xử lý tình huống sang dự báo và phòng ngừa chiến lược, gắn quốc phòng với phát triển. Hai là, xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn diện, bao gồm tiềm lực chính trị-tinh thần, kinh tế, khoa học-công nghệ và quân sự, trong đó, khoa học-công nghệ giữ vai trò đột phá, vũ khí, trang bị và công nghiệp quốc phòng được phát triển theo hướng hiện đại. Ba là, xây dựng lực lượng quốc phòng vững mạnh, với nòng cốt là LLVT nhân dân, được tổ chức theo mô hình ba thứ quân, đồng thời khẳng định vai trò quyết định của nhân dân trong tạo dựng sức mạnh quốc phòng. Bốn là, kết hợp chặt chẽ quốc phòng với kinh tế, đối ngoại và các lĩnh vực khác, tạo sự liên kết hệ thống trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm là, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc thông qua nâng cao đời sống nhân dân, phát huy dân chủ, củng cố niềm tin xã hội và đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng. Sáu là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước-nhân tố quyết định bảo đảm định hướng chính trị và hiệu quả thực thi quốc phòng.

Xây dựng nền QPTD vững mạnh trong điều kiện mới phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất giữa bảo vệ và phát triển, giữa quốc phòng với kinh tế, đối ngoại và các lĩnh vực khác. Khi xác định đúng mục tiêu và triển khai đồng bộ các yêu cầu, mới có thể phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

*Trung tướng, GS TRẦN VI DÂN, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương:

Tư duy mới, quan điểm mới về xây dựng nền quốc phòng toàn dân

Trong quá trình cách mạng, kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta từng bước hình thành, bổ sung, phát triển và hoàn thiện hệ thống quan điểm lý luận về nền QPTD phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của từng giai đoạn cách mạng, nhất là từ Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đến nay, tư duy lý luận của Đảng về nền QPTD ngày càng toàn diện, sâu sắc hơn.

Trung tướng, GS Trần Vi Dân.  

Trước hết, quan điểm về nội hàm và phạm vi mở rộng nội hàm “toàn dân” cả về chủ thể tham gia lẫn không gian triển khai quốc phòng. Quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; nhân dân là chủ thể, là trung tâm trong xây dựng, vận hành của nền QPTD ngay trong thời bình, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ cơ sở, từ khi nước chưa lâm nguy. QPTD không còn giới hạn trong không gian lãnh thổ truyền thống mà được mở rộng sang không gian mới như không gian mạng, không gian kinh tế, nền văn hóa, tư tưởng và đối ngoại.

Nền QPTD không chỉ bảo vệ vững chắc Tổ quốc mà còn tạo không gian phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; thực hiện mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; là một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Quốc phòng, an ninh không đứng ngoài hay đi sau các chương trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội mà ở ngay trong quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, nhất là các dự án hạ tầng chiến lược, chuyển đổi số và phát triển vùng. Kinh tế quốc phòng được định hướng phát triển theo hướng hiện đại, tham gia vào các chuỗi giá trị công nghiệp, khoa học-công nghệ. Cách tiếp cận này cho thấy quốc phòng vừa là yêu cầu bảo vệ, vừa là trụ cột, nền tảng tạo sự hòa bình, ổn định phục vụ phát triển đất nước.

Ngoài ra, công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ là kế sách để giữ nước trong tình hình mới. Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc trước mọi tình huống, nhất là chiến tranh công nghệ cao. Cùng với đó, lực lượng của nền QPTD được nhìn nhận theo nghĩa rộng, bao gồm Quân đội nhân dân, Công an nhân dân làm nòng cốt cùng dân quân tự vệ, dự bị động viên và nhân dân, các lực lượng xã hội khác. Nhân dân trở thành trung tâm của sức mạnh tổng hợp nền QPTD...

*Trung tướng NGUYỄN XUÂN DẮT, Tư lệnh Quân khu 9:

Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên địa bàn Quân khu 9

Xuất phát từ vị trí chiến lược, quan trọng về quốc phòng, an ninh trên địa bàn; quán triệt và thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, những năm qua, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 9 cùng với cấp ủy, chính quyền các tỉnh, thành phố trên địa bàn luôn quan tâm, chăm lo xây dựng và củng cố thế trận QPTD, gắn với thế trận an ninh nhân dân.

Trung tướng Nguyễn Xuân Dắt. 

Về xây dựng thế trận quân sự. Quân khu phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tập trung chỉ đạo xây dựng hoàn chỉnh quy hoạch thế bố trí phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trên địa bàn ngày càng vững chắc. Các công trình chiến đấu, đường tuần tra biên giới, các cụm, tuyến dân cư, chốt dân quân trên tuyến biên giới cùng với các công trình trọng điểm đã tạo nên thế trận phòng thủ kiên cố, liên hoàn, vững chắc.

Xây dựng “thế trận lòng dân” tạo nên sức mạnh chính trị-tinh thần. Cùng với thế trận quân sự, LLVT Quân khu đã phát huy tốt chức năng là đội quân công tác tích cực tham gia giúp dân xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ngày càng vững mạnh, củng cố “thế trận lòng dân” trên địa bàn chiến lược. Bước đầu phát huy tốt vai trò của đội ngũ sĩ quan ở cơ sở.

Về xây dựng thế trận kinh tế gắn với quốc phòng. LLVT Quân khu, nòng cốt là các đoàn kinh tế-quốc phòng đã phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương thực hiện tốt chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng trong từng quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, bảo đảm “mỗi bước phát triển kinh tế, xã hội là một bước tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh”. Nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội mang tính lưỡng dụng được triển khai đồng bộ, hiệu quả.

Về thế trận đối ngoại quốc phòng. Là địa bàn chiến lược có đường biên giới cả trên bộ và trên biển nên Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 9 và cấp ủy, chính quyền các địa phương luôn quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo công tác đối ngoại quốc phòng, nhiều hoạt động giao lưu, hợp tác quốc phòng giữa hai nước Việt Nam-Campuchia được tổ chức. Quân đội hai nước thường xuyên trao đổi thông tin, nắm chắc tình hình, giải quyết tốt các tình huống trên tuyến biên giới, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, ổn định, hợp tác, cùng phát triển. Chính quyền và nhân dân hai nước tổ chức nhiều hoạt động giao lưu nhằm thắt chặt mối quan hệ truyền thống tốt đẹp, góp phần củng cố thế trận QPTD trên địa bàn Quân khu ngày càng vững chắc.