Cách đây vừa tròn 60 năm, vào tối ngày 19-12-1946, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, quyết đoán của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta tại các đô thị bắc vĩ tuyến 16 đã chủ động đồng loạt nổ súng tiến công địch mở đầu Toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Sự kiện lịch sử này đánh dấu kết thúc thời kỳ đặc biệt kéo dài 15 tháng (kể từ sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời) vừa có chiến tranh, vừa có hoà bình, vừa đánh vừa đàm, vừa chuẩn bị lực lượng mọi mặt cho cuộc chiến đấu quy mô lớn không thể tránh khỏi. Đồng thời, sự kiện này cũng mở ra một thời kỳ mới: thời kỳ quân và dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và cuối cùng giành được thắng lợi 8 năm sau đó.
Quá trình chuẩn bị kế hoạch cho cuộc tiến công đồng loạt vào quân địch ở đô thị-nơi trung tâm chính trị, quân sự, kinh tế của cả nước, của từng địa phương, nơi địch có lực lượng mạnh nhất-là một quá trình từng bước nhận định về âm mưu, hành động của kẻ thù, chuẩn bị đường lối, lực lượng, kế hoạch và cách đánh một cách cụ thể, khoa học, trên cơ sở thực tế tình hình và căn cứ vào so sánh lực lượng lúc đó.
Cuộc chiến đấu của quân và dân ta tại Hà Nội và các thành phố, thị xã bắc vĩ tuyến 16 đã được duy trì và kéo dài hơn nhiều so với dự kiến ban đầu là do những nhân tố chính sau đây:
- Sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sâu sát và đúng đắn của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều này thể hiện rất rõ qua việc sớm đề ra và từng bước hoàn chỉnh đường lối kháng chiến-đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sức mình là chính-trên cơ sở phân tích khoa học so sánh lực lượng và căn cứ vào thực tế tình hình đất nước lúc đó.
- Sự chuẩn bị chu đáo về lực lượng, về thế trận, về cách đánh, về vũ khí trang bị, lương thực và căn cứ hậu phương cho mở đầu kháng chiến
- Quyết tâm chiến đấu bảo vệ nền độc lập, tự do mới giành được, tinh thần dũng cảm “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, vượt mọi khó khăn gian khổ của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta.
- Có cách đánh phù hợp, độc đáo, sáng tạo, bước đầu phát huy được sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình. Khai thác và tận dụng những thuận lợi, những điểm mạnh về ưu thế chính trị tinh thần, về thiên thời, địa lợi, nhân hoà, biến nó thành sức mạnh vật chất để đánh bại kẻ thù, đồng thời hạn chế, khoét sâu nhược điểm, chỗ yếu của địch, đẩy chúng vào thế bị động, lúng túng chống đỡ, không thể thực hiện được kế hoạch đánh nhanh, thắng nhanh.
|
Tư tưởng chỉ đạo chung cuộc kháng chiến toàn quốc của Đảng là phải nắm quyền chủ động cả trong tiến công và phòng ngự, tổ chức rút quân bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu trong thành phố. Quân và dân ta tại các đô thị đã quán triệt và thực hiện xuất sắc tư tưởng chỉ đạo này nên đã góp phần to lớn vào kết quả của Toàn quốc kháng chiến. Thắng lợi của các trận tiến công đồng loạt mở đầu Toàn quốc kháng chiến cũng chính là mở đầu cuộc chiến tranh trên quy mô cả nước, đã cho thấy nghệ thuật lãnh đạo, chỉ đạo chiến tranh tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh. |
Nghệ thuật chỉ đạo mở đầu chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược thể hiện thành công ở mấy điểm sau:
Một là: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận biết kẻ thù là thực dân Pháp và âm mưu xâm lược của chúng để tập trung “chĩa ngọn lửa đấu tranh” vào đối tượng này. Do sớm nhận biết đúng kẻ thù và dã tâm xâm lược của chúng nên Đảng ta đã sớm hạ quyết tâm kháng chiến và tinh thần quyết chiến đó đã được toàn quân, toàn dân thấu triệt, hết sức ủng hộ. Tuy nhiên, chỉ có quyết tâm kháng chiến thôi thì chưa đủ mà điều quan trọng là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền được cho các tầng lớp nhân dân lòng tin vào thắng lợi cuối cùng trên cơ sở đánh giá đúng sức mạnh của kẻ thù, cũng như tương quan lực lượng đôi bên, để từ đó tìm ra cách đánh phù hợp.
Hai là: Cuộc tiến công chủ động của quân và dân ta đã diễn ra gần như cùng một thời điểm nhưng lại trên một không gian rộng từ Đà Nẵng trở ra, trong điều kiện phương tiện thông tin liên lạc còn hạn chế. Đây là thành công về mặt chỉ đạo, chỉ huy tập trung, thống nhất của Trung ương Đảng, của Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy. Mặc dù Bộ chỉ huy quân viễn chinh Pháp không hoàn toàn bất ngờ trước sự chuẩn bị và thời gian nổ ra đòn tiến công đồng loạt của quân và dân ta, nhưng chúng đã không thể dự kiến hết được quy mô to lớn và cường độ ác liệt của cuộc tiến công cũng như sự chiến đấu kiên cường của các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Nghệ thuật mở đầu chiến tranh của ta đã thành công ở chỗ biết căn cứ vào tình hình cụ thể, phân tích một cách khoa học biện chứng chỗ mạnh, yếu của cả ta và địch để định ra thời điểm tiến công có lợi nhất, lựa chọn địa bàn và cách đánh thích hợp… để có thể duy trì cuộc chiến đấu kéo dài trong đô thị, giam chân chúng ở nội đô càng lâu càng tốt, tạo điều kiện cho các lực lượng vũ trang và nhân dân triển khai thế trận của cuộc kháng chiến trường kỳ.
Ba là: Nghệ thuật chỉ đạo mở đầu Toàn quốc kháng chiến đã tạo điều kiện để chuyển cả nước vào chiến tranh-từ tình trạng đặc biệt là vừa có chiến tranh ở miền Nam vừa có hoà bình ở miền Bắc chuyển hẳn sang tình trạng có chiến tranh trên phạm vi cả nước-một cách nhanh chóng, thuận lợi, theo đúng kế hoạch dự kiến. Kết quả của sự chuyển trạng thái nhanh chóng, đúng theo kế hoạch đề ra nói trên xuất phát từ sự chuẩn bị chu đáo về đường lối kháng chiến, về thực lực mọi mặt, về cách đánh và đặc biệt là về xây dựng tinh thần quyết đánh, quyết thắng cho toàn dân. Điều đó cũng xuất phát từ tư tưởng chỉ đạo tích cực, chủ động tiến công địch, trên cơ sở đó mà chủ động triển khai thực hiện một cách khá suôn sẻ một khối lượng công việc khổng lồ nhằm hoàn thành chuyển cả nước vào trạng thái thời chiến.
Như vậy, chủ động tiến công địch ở các đô thị, mở đầu Toàn quốc kháng chiến, là một thành công lớn của quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc giam chân địch dài ngày tại các thành phố, thị xã cũng đồng nghĩa với việc quân và dân ta đã đánh bại một bước quan trọng chủ trương chiến lược “Đánh nhanh, thắng nhanh” của kẻ thù.
Những thành công về chuẩn bị đường lối, chuẩn bị lực lượng mọi mặt, về tư tưởng chỉ đạo và cách đánh, rồi chủ động tiến công địch, chủ động di chuyển cơ quan, kho tàng, máy móc… đến chủ động rút quân để bảo toàn lực lượng, đòn tác chiến chiến lược mở đầu chiến tranh, đạt được các mục tiêu đề ra, mà quân và dân ta đã thực hiện trong Đông-Xuân 1946-1947, là một hình mẫu đặc sắc trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh của Đảng ta và trở thành những bài học kinh nghiệm quý giá trong công cuộc xây dựng nền quốc phòng-an ninh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Đó là bài học về Đảng lãnh đạo chuẩn bị mọi mặt cho cuộc chiến tranh không thể tránh khỏi kể từ ngay sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Công việc chuẩn bị đó bao gồm xây dựng cơ sở pháp lý cho chế độ mới (bầu Quốc hội, soạn thảo Hiến pháp), xây dựng chính quyền nhân dân từ trung ương tới cơ sở…; khôi phục kinh tế, tài chính, phát động phong trào tăng gia sản xuất giải quyết nạn đói, phát động phong trào bình dân học vụ để xoá nạn mù chữ; xây dựng lực lượng vũ trang, trong đó đặc biệt chú ý đến xây dựng quân đội chính quy đủ mạnh, trở thành công cụ đắc lực bảo vệ nhà nước, bảo vệ nền độc lập tự do mới giành được; thực hiện cuộc đấu tranh ngoại giao để tranh thủ thời gian chuẩn bị; đấu tranh chống thù trong, giặc ngoài, ngăn chặn hành động khiêu khích gây chiến của chúng.
Bài học về sớm đề ra và từng bước hoàn chỉnh đường lối kháng chiến. Đường lối kháng chiến được thể hiện qua một loạt những nhận định, chỉ thị, văn kiện; lời kêu gọi… của Trung ương Đảng và Hồ Chí Minh, kể từ Hội nghị toàn quốc của Đảng (13-8-1945) đến Chỉ thị kháng chiến kiến quốc (25-11-1945), Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (19-10-1946), văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” (5-11-1946), Chỉ thị Toàn dân kháng chiến (12-12-1946), đến Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946). Khái quát lại, đó là đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, là nội dung cốt lõi của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống lại và đánh thắng chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp.
Bài học chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến khi nguy cơ chiến tranh ngày càng tới gần. Trước dã tâm xâm lược của thực dân Pháp, Hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng ngày 19-10-1946 đã nhận định: “Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”. Ngay từ tháng 11-1946, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử các đoàn cán bộ lên Việt Bắc để chuẩn bị căn cứ khi chiến tranh nổ ra, đồng thời đã bí mật, chủ động chuyển dần các cơ quan lãnh đạo, nhà máy, kho tàng… ra ngoại thành khi Toàn quốc kháng chiến bùng nổ. Một cuộc tổng di chuyển các cơ quan, kho tàng, máy móc, gạo, muối, vải… đã diễn ra nhanh chóng, an toàn. Trên đường di chuyển về căn cứ, các cơ quan của Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy vẫn duy trì trực tiếp, kịp thời, hiệu quả việc lãnh đạo, chỉ đạo cuộc chiến đấu ở các thành phố, thị xã. Các nhà máy, công xưởng (với số máy móc, nguyên vật liệu mang theo được lên tới trên 40.000 tấn) vẫn duy trì được sản xuất phục vụ chiến đấu. Hàng chục nghìn người dân thành phố đã được các Uỷ ban tản cư và di cư từ trung ương tới khu, tỉnh bố trí nơi ăn, ở, lao động sản xuất mới, ổn định cuộc sống, tích cực tham gia kháng chiến. Việc chuyển đất nước từ thời bình sang thời chiến một cách nhanh chóng đã tạo đà thuận lợi cho cuộc kháng chiến phát triển về sau.
Bài học về chuẩn bị kế hoạch tác chiến ở đô thị của lực lượng vũ trang. Cùng với việc triển khai và chỉ đạo kế hoạch tác chiến các chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy tập trung xây dựng kế hoạch chủ động tiến công địch ở đô thị. Từ tháng 9-1946, Bộ Quốc phòng đã triệu tập Hội nghị các khu trưởng bàn về cách đánh trong thành phố khi có chiến sự. Sau khi cuộc chiến đấu ở Hải Phòng, Lạng Sơn nổ ra, đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh viết bài “Kháng chiến trong thành phố”, nêu một cách cụ thể chiến thuật của lực lượng vũ trang đánh địch ở đô thị. Trước ngày Toàn quốc kháng chiến một tuần, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu lại triệu tập các Khu trưởng thống nhất lần cuối về cách đánh, thống nhất hiệu lệnh nổ súng cũng như sự phối hợp tác chiến giữa các thành phố, thị xã. Chính nhờ có sự chuẩn bị kế hoạch một cách tập trung, thống nhất, chu đáo, việc bố trí lực lượng hợp lý nên khi buộc phải cầm súng, quân và dân ta đã chủ động tiến công địch, đẩy chúng vào thế bị động, lúng túng, duy trì được cuộc chiến đấu giam chân địch dài ngày trong đô thị và sau đó rút ra, bảo toàn lực lượng để kháng chiến lâu dài.
Trong tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta có sự phát triển mới to lớn hơn và yêu cầu cũng cao hơn. Đây là điều mà nhân dân cả nước nói chung, toàn thể cán bộ, chiến sĩ quân đội nói riêng, cần phải quán triệt sâu sắc bởi sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải là sức mạnh tổng hợp của toàn thể dân tộc, của cả đất nước, bao gồm: chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá xã hội, quốc phòng-an ninh, đối ngoại…
Thực tế diễn biến cuộc tiến công mở đầu Toàn quốc kháng chiến nói riêng, diễn biến hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược nói chung, đã chứng tỏ: sở dĩ chúng ta giành được thắng lợi trước kẻ địch đông, mạnh như vậy là do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo và triển khai một cuộc chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, đánh địch bằng sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc.
Vì nền quốc phòng làm nên những thắng lợi vĩ đại trong 30 năm chiến tranh giải phóng (1945-1975) của ta là nền quốc phòng của toàn dân, do nhân dân tiến hành và đem lại lợi ích cho nhân dân nên sức mạnh của nền quốc phòng cũng phải là sức mạnh tổng hợp của toàn dân. Trong “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến” ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Quân dân cả nước, nghe theo lời kêu gọi cứu nước của Người, đã chung sức đoàn kết tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân đi tới thắng lợi cuối cùng.
Trong tình hình hiện nay, cách tốt nhất, hiệu quả nhất để xây dựng nền quốc phòng toàn dân chính là tổ chức và tạo điều kiện cho toàn dân tham gia vào các hoạt động quốc phòng. Muốn vậy, phải có chủ trương, chính sách phù hợp để phát huy được sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, của cả hệ thống chính trị; kết hợp lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân với lực lượng, thế trận an ninh nhân dân, kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế (trong kháng chiến chống Pháp chúng ta đã thực hiện thành công đường lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc để tạo nên sức mạnh đánh bại kẻ thù); kết hợp quốc phòng với an ninh đối ngoại, nâng cao chất lượng tổng hợp của các lực lượng vũ trang, ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu và hành động nhằm gây mất ổn định chính trị-xã hội và xâm phạm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân phải là sức mạnh tập trung, thống nhất sức mạnh của toàn dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước, lấy lực lượng vũ trang làm nòng cốt; là việc không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Thế trận và sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân luôn được xây dựng và gắn liền với sức mạnh của cả nước, với sự phát triển của các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội.
Đối với quân đội ta, điều quan trọng trước hết là toàn thể cán bộ, chiến sĩ, quân nhân chuyên nghiệp, công chức quốc phòng cần tiếp tục quán triệt một cách sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, trực tiếp là Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (khoá IX) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Hiện nay, toàn quân, toàn dân ta đang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong bối cảnh thời bình nhưng có sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Bởi vậy, hoạt động quốc phòng-an ninh của đất nước, mà quân đội đóng vai trò chủ yếu, luôn gắn liền các mặt vừa xây dựng, hợp tác vừa đấu tranh ngăn ngừa nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, chống lại có hiệu quả và làm thất bại chiến lược diễn biến hoà bình, bạo loạn lật đổ của kẻ thù.
Từ những bài học, kinh nghiệm của cuộc tiến công mở đầu Toàn quốc kháng chiến cách đây tròn 60 năm, về nắm chắc âm mưu và hành động của kẻ thù; về chuẩn bị mọi mặt, căn cứ vào tình hình cụ thể để đề ra đường lối, cách đánh phù hợp; về chỉ đạo nghệ thuật mở đầu chiến tranh, chuyển đất nước vào thời chiến; về tính chủ động, tích cực tiến công địch trong mọi tình huống; về phối hợp tác chiến giữa các mặt trận, các địa phương… toàn quân ta cần nhận thức sâu sắc hơn nữa tình hình và nhiệm vụ mới, nắm chắc và phát huy tư tưởng chủ động tiến công, kết hợp với chuẩn bị chu đáo về mọi mặt, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống, nâng cao chất lượng và sức mạnh của nền quốc phòng-an ninh, làm tròn nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thượng tướng Phùng Quang Thanh
Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư ĐUQSTư
Bộ trưởng Bộ Quốc phòng