Trong tác chiến, việc xác định rõ thời cơ để tổ chức phản công là một vấn đề phức tạp. Nếu xác định đúng thời cơ thì sẽ thu được hiệu quả lớn, ngược lại nếu không xác định đúng thời cơ, phản công sớm, hoặc muộn thì dễ bị tổn thất. Như vậy có thể thấy, việc chớp thời cơ là rất quan trọng, thể hiện một phần tính chủ động trong tác chiến. Còn tính chủ động thực sự lại nằm ở giai đoạn từng bước chuyển thế để tạo ra thời cơ cho phản công. Trong chiến dịch Việt Bắc (thu-đông năm 1947) ta không những xác định đúng thời cơ phản công mà còn từng bước chặn địch bằng các trận đánh cấp chiến thuật, giành ưu thế từ cấp chiến thuật để tiến tới giành ưu thế ở cấp chiến dịch, tức là bảo đảm chuyển dần thế trận tạo thời cơ phản công.

Ngày 7-10-1947, quân Pháp mở cuộc tiến công lên Việt Bắc. Sau gần một tháng tác chiến, quân Pháp không thực hiện được các mục tiêu đã định (đánh vào trung tâm đầu não kháng chiến, tiêu diệt chủ lực, phá tan cơ sở kháng chiến của ta…) mà còn bị đánh tơi tả ở khắp các địa bàn. Trên Mặt trận sông Lô, ta tổ chức pháo binh đánh gần, trưa 24-10-1947 thực hiện một trận phục kích xuất sắc, đánh chìm và đánh hỏng 4 trong số 5 chiếc tàu của địch, cắt đứt tuyến giao thông này trong 10 ngày liền, buộc quân Pháp phải tiếp tế cho lực lượng ở Tuyên Quang bằng đường không. Trên Mặt trận đường số 4, Tiểu đoàn 374 đánh trận phục kích lớn tại đèo Bông Lau, diệt 30 xe vận tải của địch có xe bọc thép yểm trợ, loại khỏi vòng chiến đấu 250 tên địch, cắt đứt đường số 4 trong nhiều ngày. Thời gian tác chiến càng kéo dài, quân Pháp trên Việt Bắc càng lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Việc tiếp tế hậu cần cho các cánh quân đã trở thành quá tải đối với lực lượng vận tải của Pháp. Lượng hàng hoá tiếp tế qua đường bộ, đường thuỷ không đáng là bao mà hầu hết nhu cầu, vật chất chiến tranh đều phụ thuộc vào đường tiếp tế hàng không. Do không tìm được mục tiêu tác chiến và bị tấn công khắp nơi, tinh thần của binh lính Pháp bắt đầu sa sút. Các cánh quân “lùng sục chủ lực Việt Minh” bị tổn thất nặng do bị du kích chặn đánh, vì thế địch rơi vào thế “tiến thoái lưỡng nan”, nên đành phải rút lui cục bộ. Ngày 28-10-1947, địch bắt đầu rút khỏi Bản Thi, Yên Thịnh. Từ ngày 13 đến 16-11 chúng tiếp tục rút khỏi Chợ Đồn, Chợ Rã, Ngân Sơn. Kế hoạch “Lê-na” của quân Pháp bắt đầu bị phá sản.

Để tạo ra một cục diện chiến trường có lợi cho ta, thực tế chúng ta đã có những bước điều chuyển lực lượng kết thúc linh hoạt. Những ngày đầu chiến dịch, ta ở thế bị động, nhưng ngay sau đó tất cả các lực lượng đang hoạt động trên Việt Bắc và một số đơn vị hoạt động trong vùng địch hậu, đã được điều chỉnh đội hình chiến đấu, tạo ra thế trận vừa có bề rộng, vừa có chiều sâu để đón đánh địch. Việc ngăn chặn đường tiếp tế hậu cần của địch trên sông Lô, sông Gâm tiếp tục được các đơn vị thực hiện có hiệu quả. Ngày 10-11-1947, pháo binh Khu 10 tổ chức đánh trận phục kích trên sông Gâm đánh đắm 4 tàu địch, diệt 200 tên. Cùng thời điểm này, nhiều trận phục kích cấp phân đội cũng được thực hiện cả ở đường sông và đường bộ. Trên đường số 4, đường

Để tạo ra một cục diện chiến trường có lợi cho ta, thực tế chúng ta đã có những bước điều chuyển lực lượng kết thúc linh hoạt. Những ngày đầu chiến dịch, ta ở thế bị động, nhưng ngay sau đó tất cả các lực lượng đang hoạt động trên Việt Bắc và một số đơn vị hoạt động trong vùng địch hậu, đã được điều chỉnh đội hình chiến đấu, tạo ra thế trận vừa có bề rộng, vừa có chiều sâu để đón đánh địch.

số 3 địch buộc phải lập nhiều đồn bốt để án ngữ tuyến đường vận tải trọng yếu này, trước khi hành quân bao giờ chúng cũng tổ chức lùng sục, nhưng vẫn bị rơi vào các trận địa phục kích của ta.

Ngày 20-11-1947, địch bắt đầu thực hiện giai đoạn hai của chiến dịch với mật danh “Xanh-tuya”, thực chất là từng bước rút quân khỏi Việt Bắc kết hợp càn quét phá hoại cơ sở kháng chiến của ta. Bộ Tổng chỉ huy đã nhận rõ âm mưu của địch, triển khai lực lượng bảo vệ cơ quan đầu não, đồng thời chỉ đạo các đơn vị thực hành phản công. Từ ngày 25-11 đến ngày 19-12-1947, trên khắp các mặt trận, ta đã tổ chức hàng trăm trận đánh cấp chiến thuật làm cho quân Pháp càng lâm vào thế cô lập, phải rút quân. Trên đường rút lui, các cánh quân của Pháp đều bị đánh thiệt hại nặng. Kế hoạch “vành đai” của quân Pháp không thể “siết chặt” được theo ý định mà bị băm nát. Đến ngày 19-12-1947, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 7.200 tên địch, bắn rơi 18 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 54 tàu chiến, ca nô, phá hủy 255 xe cơ giới của địch. Cuộc hành quân của Pháp lên Việt Bắc hoàn toàn thất bại.

60 năm đã qua, nghệ thuật tác chiến phản công trong chiến dịch Việt Bắc thu-đông năm 1947 vẫn còn như mới. Đó là khi địch chủ động tiến công, ta đã không chọn loại hình phòng ngự mà chọn loại hình tác chiến phản công, lấy tiến công cấp phân đội làm cách đánh chủ yếu để chống lại cuộc tiến công quy mô lớn của địch. Các lực lượng tham gia chiến dịch được sử dụng rất linh hoạt, chiến tranh du kích được phát huy mạnh mẽ, rộng khắp và liên tục làm cho địch bị tiêu hao, mòn mỏi, chuyển sang thế bị động đối phó. Thực ra, ngay từ khi địch tiến công lên Việt Bắc ta đã nhận thấy điểm yếu cơ bản của địch ngay trong điểm mạnh của chúng. Đó là đường cơ động của chúng vừa xa, vừa hiểm trở, vì thế bắt buộc phải kéo dài đội hình, khó phát huy được ưu thế của binh hoả lực, nhưng lại dễ bị hở sườn. Chính vì vậy ta đã chủ trương những ngày đầu chiến dịch phải lấy đánh phục kích, vận động phục kích là chính và cách đánh đó đã phát huy hiệu quả chiến đấu. Cũng từ cách đánh này, đã làm cho địch không thể tiến quân nhanh được do liên tục phải đối phó, sức mạnh của các “gọng kìm” bị giảm đi đáng kể, tiến tới bị bẻ gãy hoàn toàn.

Trần Kim Hà