Trong mấy tuần qua, báo chí và dư luận trong nước và quốc tế liên tục đề cập tới thỏa thuận quân sự giữa Việt Nam và LB Nga, được kí kết nhân chuyến thăm, làm việc của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Mát-xcơ-va giữa tháng 12-2009.
Theo đó, với sự hỗ trợ của Nga, Việt Nam sẽ mua của Nga một số tàu ngầm hiện đại lớp Kilo và máy bay chiến đấu hiện đại SU-30MK-2 để trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là một bước trong cố gắng hiện thực hóa chương trình từng bước hiện đại hóa quân đội. Thỏa thuận quân sự Việt-Nga đã khiến nhân dân Việt Nam phấn khởi và tự hào vì dù còn nhiều khó khăn nhưng Đảng và Nhà nước đã cố gắng dành một khoản từ ngân sách hạn hẹp của quốc gia để mua sắm một số loại vũ khí, thiết bị cần thiết trang bị cho quân đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Dư luận quốc tế nói chung nhìn nhận việc Việt Nam mua sắm trang bị, từng bước hiện đại hóa quân đội là việc làm bình thường và tất yếu, giống như mọi quốc gia khác vẫn làm nhằm tăng cường khả năng phòng thủ đất nước.
 |
| Máy bay chiến đấu SU-30MK-2. Ảnh: Airliners.net |
Tuy nhiên, cũng có một số bình luận của báo chí nước ngoài có ý lo ngại rằng, với hợp đồng mua vũ khí trên, Việt Nam đang bị “cuốn theo một cuộc chạy đua vũ trang” hoặc “thúc đẩy một cuộc chạy đua vũ trang trong khu vực”, đặc biệt trong tình hình hiện nay khi Biển Đông đang có những tranh chấp đáng lo ngại. Có cả những ý kiến cho rằng, Việt Nam đang mua sắm vũ khí hiện đại để răn đe hoặc “đối đầu” với Trung Quốc trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông… Thậm chí có trang web đăng tải bài viết với nội dung "khuyên" cần phải tiến hành một cuộc chiến với Việt Nam như thế nào nhằm đảm bảo giành thắng lợi trên biển và trên bộ khi Việt Nam được trang bị vũ khí mới. Đó là những ý kiến được đưa ra trên cơ sở thiếu hiểu biết hoặc cố ý xuyên tạc quan điểm quốc phòng của Việt Nam, lịch sử chiến tranh cách mạng ở Việt Nam và thực tế trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam. Sự suy luận này không mang tính xây dựng, thậm chí có thể coi đó là sự kích động tâm lí chia rẽ, đối đầu trong khu vực.
Vậy, sự thật của việc mua sắm trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam vừa rồi là thế nào?
Gần đây nhất, vào đầu tháng 12-2009, nhân dịp kỉ niệm 65 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Việt Nam đã lại một lần nữa công bố Sách Trắng quốc phòng, nêu rất rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc đánh giá tình hình quốc phòng-an ninh trong nước, trong khu vực và trên thế giới; các mối đe dọa đối với quốc phòng-an ninh của Việt Nam; chính sách quốc phòng của Việt Nam và việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, trong đó khẳng định đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân với quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt, nhằm bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Theo Sách Trắng quốc phòng của Việt Nam, dù hòa bình, hợp tác vẫn là xu thế lớn, nhưng tình hình thế giới và khu vực vẫn có những diễn biến phức tạp. Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang giữa các quốc gia hay trong một quốc gia do các mâu thuẫn dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, hoạt động khủng bố, can thiệp lật đổ, li khai, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên và các lợi ích quốc gia khác có chiều hướng gia tăng, đe dọa tới hòa bình và an ninh của các quốc gia, dân tộc. Tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ đối với quốc phòng-an ninh. Nhiều điểm nóng có nguy cơ bùng nổ thành xung đột vũ trang và chiến tranh vẫn chưa được giải quyết; tình trạng tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên trên đất liền cũng như trên biển có chiều hướng gia tăng.
 |
| Tàu ngầm lớp Kilo. Ảnh internet. |
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong mọi lĩnh vực, tạo thế và lực mới cho đất nước. Thế nhưng Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức về an ninh phức tạp và đa dạng. Mặc dù quốc phòng và an ninh của đất nước vẫn cơ bản được giữ vững, nhưng nhiều nhân tố gây mất ổn định chính trị-xã hội từ bên ngoài và bên trong vẫn tồn tại, chưa được khắc phục triệt để. Các quyền tự do dân chủ, tự do tôn giáo, các vấn đề quyền con người đang bị các thế lực thù địch lợi dụng để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động bạo loạn, li khai tại một số vùng của đất nước. Tình hình tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển có nhưng diễn biến phức tạp, tác động không nhỏ tới hoạt động của nhân dân và phát triển kinh tế biển của Việt Nam…
Từng phải trải qua những cuộc chiến tranh tàn khốc do chủ nghĩa thực dân và đế quốc gây ra, với sự hi sinh, mất mát vô cùng to lớn và hậu quả khủng khiếp mà đến nay vẫn chưa thể khắc phục nổi, nhân dân Việt Nam hiểu rõ sự tàn khốc của chiến tranh, những tác động tiêu cực của nó đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Vì vậy, đường lối, chủ trương, chính sách nhất quán của Việt Nam là bằng mọi cách bảo vệ, duy trì môi trường hòa bình, ổn định phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Phát huy truyền thống "dựng nước đi đôi với giữ nước", Việt Nam đề ra hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trong đó xây dựng đất nước luôn đi đôi với bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này được thể hiện trong mọi văn kiện của Đảng và Nhà nước. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế-xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là mục tiêu xuyên suốt của chính sách quốc phòng Việt Nam. Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ, thể hiện chủ trương không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế, giải quyết mọi bất đồng và tranh chấp với các quốc gia bằng biện pháp hòa bình. Việt Nam chủ trương từng bước hiện đại hóa quân đội, tăng cường tiềm lực quốc phòng chỉ nhằm duy trì sức mạnh quân sự ở mức cần thiết để tự vệ. Việt Nam phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang; triệt để tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của các quốc gia khác trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, đồng thời cũng đòi hỏi các quốc gia khác phải tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích quốc gia của Việt Nam. Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam chủ trương không đe dọa hoặc sử dụng sức mạnh quân sự trước, nhưng sẵn sàng và kiên quyết giáng trả mọi hành động xâm lược. Chính sách quốc phòng Việt Nam luôn gắn bó mật thiết với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, với chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi Việt Nam phải tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh toàn diện, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao. Trong đó, Việt Nam chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm lực lượng nòng cốt trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ trương xây dựng quân đội từng bước hiện đại được Ðảng Cộng sản Việt Nam xác định từ Ðại hội VII (năm 1991). Từ đó đến nay, với sự quan tâm đặc biệt và nỗ lực rất lớn của Ðảng và Nhà nước, Quân đội nhân dân Việt Nam đang từng bước hiện đại hóa quân đội theo đúng phương hướng, lộ trình, kế hoạch xác định và đã đạt được những kết quả quan trọng. Xây dựng quân đội từng bước hiện đại được thực hiện trên cơ sở phát huy nội lực, với cố gắng chi phí ít tốn kém nhất. Tuy nhiên, cũng như nhiều nước khác, trong điều kiện khoa học-công nghệ của đất nước chưa đáp ứng được các yêu cầu phát triển hiện đại hóa quân đội nên có những thiết bị buộc phải mua của nước ngoài để trang bị cho quân đội phù hợp với khả năng thực tế của đất nước và yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Sách Trắng quốc phòng Việt Nam năm 2009 đã đưa ra những thống kê về ngân sách quốc phòng Việt Nam trong 4 năm gần đây (2005-2008), với mức chi hằng nằm từ gần 1,9 đến gần 2,6% GDP. Những con số khiêm tốn này cho thấy ngân sách quốc phòng hằng năm hầu như chỉ đủ để bảo đảm đời sống và duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu cho Quân đội. Trong khi, các trang bị vũ khí của quân đội vẫn thuộc thế hệ cũ, đã dần trở nên lạc hậu cần phải thay thế để đảm bảo khả năng phòng thủ đất nước.
Có thể coi ý kiến của giáo sư C.Thay-ơ (Carl Thayer) thuộc Học viện quốc phòng Ô-xtrây-li-a, về thực trạng trang bị của Quân đội nhân dân Việt Nam là một phần thực tế: Quân đội Việt Nam đã có những bước thụt lùi về trang bị kể từ năm 1991, khi Liên Xô sụp đổ, vì những trang thiết bị, vũ khí do Liên Xô (trước đây) sản xuất bị xuống cấp, hư hỏng dần theo thời gian. (Đó cũng là nguyên nhân dẫn tới một số vụ tai nạn đáng tiếc xảy ra trong những năm gần đây trong quá trình huấn luyện sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc). Là quốc gia có bờ biển dài và có chiến lược phát triển kinh tế biển, nhưng Việt Nam chưa bao giờ có lực lượng hải quân mạnh, kể cả khi được trang bị vũ khí mới, trong so sánh với các lực lượng của các quốc gia trong khu vực.
Thực tế cho thấy, Việt Nam luôn là quốc gia đi sau so với các quốc gia trong khu vực trong việc hiện đại hóa quân đội. Việt Nam hiểu rất rõ chi phí tốn kém cho quân đội bảo vệ Tổ quốc nên trong hàng chục năm qua đã cố gắng phát huy tinh thần tự lực, tự cường trong việc trang bị cho quân đội thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam luôn coi trọng xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tinh thần, có biên chế, tổ chức hợp lí, sẵn sàng chiến đấu, hi sinh bảo vệ độc lập, tự do dân tộc và các lợi ích quốc gia. Các trang bị vũ khí hiện đại sẽ không phát huy được hiệu quả nếu quân đội không có phẩm chất chính trị, tinh thần tốt. Và, dù có bỏ ra bao nhiêu tiền để mua sắm vũ khí trang bị cho quân đội cũng không thể sánh kịp tiềm lực của các quốc gia khác. Vì vậy, Việt Nam chỉ duy trì sức mạnh quân sự cần thiết để tự vệ trước các nguy cơ đe dọa an ninh và lợi ích quốc gia.
Mọi đánh giá, nhận xét mang tính nghi ngại hoặc kích động từ bên ngoài đối với việc Việt Nam từng bước hiện đại hóa quân đội đều thiếu căn cứ và cơ sở thực tế.
KIM TÔN