Nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa vừa tuyên bố độc lập thì 20 hôm sau thực dân Pháp đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn. Cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam bắt đầu. Gậy tầm vông chống lại đại bác. Lồng ngực cản xe tăng. Cả nước một lời thề: Thà chết không chịu làm nô lệ một lần nữa. Pháp tưởng nuốt trôi Sài Gòn trong đêm 22 rạng ngày 23-9-1945, nhưng chúng đã lầm và bị quân dân ta chặn đứng hơn một tháng trong các khu phố Sài Gòn. Pháp tưởng nuốt trôi Nam Bộ trong 15 ngày hay một tháng, nhưng chúng đã phải đánh đến 9 năm mà không thắng nổi. Về ý nghĩa cuộc kháng chiến ở Nam Bộ thì ngay từ tháng 5-1946, khi bước chân lên tàu sang Pháp đàm phán, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói trong một bức thư ít chữ, nhiều tình, gửi cho đồng bào Nam Bộ rằng:
“Đồng bào Nam Bộ đã hy sinh đấu tranh mấy tháng trường, để giữ gìn non sông cho toàn nước Việt Nam. Cho nên đồng bào cả nước đều phải nhớ ơn đồng bào Nam Bộ.
Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”.
Nhân dân ta ghi khắc vào lòng hai ý lớn của Cụ Hồ: Nam Bộ mở đầu kháng chiến là để giữ gìn non sông cho cả Việt Nam; đồng bào Nam bộ là dân nước Việt Nam. Vì độc lập của Tổ quốc, vì thống nhất của đất nước. Đó là ý nghĩa của cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam, bắt đầu tại Nam Bộ ngày 23-9-1945. Ý chí độc lập, thống nhất còn cao hơn núi, còn dài hơn sông. Chân lý đơn giản mà vĩ đại này có tác dụng tăng thêm nghị lực cứu quốc của đồng bào Nam Bộ đang sống trong khói lửa, cũng như đồng bào chung, Bác Hồ lúc ấy luôn hướng về đồng bào Nam Bộ kháng chiến.
Từ khi đặt chân xâm chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp luôn toan tính mưu mô tìm mọi cách chia rẽ Bắc-Trung-Nam để dễ bề cai trị. Song thực tế diễn biến cuộc kháng chiến đã phản ánh đúng đắn lòng người Việt Nam; cuộc đấu tranh vũ trang cũng như đấu tranh chính trị của nhân dân ta hiểu đúng lời Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946:
“Nam Bộ là thịt của thịt Việt Nam, là máu của máu Việt Nam”.
Khi thực dân Pháp tiến quân ra Nam Trung Bộ, cuộc kháng chiến của nhân dân cả nước mở rộng. Do đó, ngay sau khi đàm phán ở Pháp trở về, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa khẳng định tính thống nhất của Việt Nam và đặt lòng tin tưởng vào “gan vàng, dạ sắt” của đồng bào miền Nam. Trước âm mưu chia cắt của kẻ thù, Người thống thiết kêu gọi:
“Hỡi đồng bào Nam Bộ và miền Nam Trung Bộ.
Trung, Nam, Bắc đều là đất nước Việt Nam.
Chúng ta đều chung một tổ tiên dòng họ, đều là ruột thịt anh em. Nước chúng ta có Trung, Nam, Bắc, cũng như nhà có ba anh em, cũng như nước Pháp có vùng Noóc-măng-đi, Prô-văng-vơ, Bơ-xơ.
Không ai có thể chia rẽ con một nhà, không ai có thể chia rẽ nước Pháp, thì cũng không ai có thể chia rẽ nước Việt Nam ta. Trong một năm trường đồng bào kháng chiến, người thì tan cửa nát nhà, người thì hy sinh tính mạng, người thì bị tù đày. Nhưng lòng yêu nước của đồng bào vẫn trơ như đá, vững như đồng. Đối với gan vàng dạ sắt của đồng bào, toàn thể quốc dân không bao giờ quên”.
Gan vàng, dạ sắt đó, được đồng bào Nam Bộ, miền Nam Trung Bộ giữ vững và tăng cường suốt thời gian 9 năm kháng chiến. Tất cả các mưu toan của thực dân Pháp hòng đánh vào sự thống nhất đất nước và dân tộc Việt Nam đều bị thất bại. Suốt 9 năm kháng chiến, những chiến khu hiển hách chiến công như: Ba Lòng, Chiến khu Đ, Dương Minh Châu, Đồng Tháp Mười, U Minh, Năm Căn… đã làm thảm bại biết bao cuộc tấn công của kẻ thù mà mười lần mạnh hơn ta về vũ khí. Những vùng giải phóng, chiến khu, bưng biền ấy chẳng những là rừng chông trùng trùng đâm xuyên bàn chân đế quốc, mà còn là ngàn vạn mũi đinh đóng trên khóe mắt chúng; hơn nữa, đó còn là muôn vàn lưỡi gươm bén nhọn đâm thẳng vào lưng kẻ thù xâm lược.
Suốt 9 năm kháng chiến, hễ mỗi lần địch tấn công lớn ở chiến trường chính Bắc Bộ, thì chúng đều bị đánh đau, đánh hiểm ở miền Nam; mỗi lần địch cố mở chiến dịch “bình định” lớn ở miền Nam thì chúng không khỏi bị tấn công dồn dập ở miền Bắc. Cả dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất, lôi địch đàng đông, kéo địch đàng tây, chia sẻ, tiêu hao, tận diệt quân xâm lược, để 9 năm làm nên một pho sử vàng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu, chấn động địa cầu.
Giáo sư Trần Văn Giàu