QĐND - Có thể nói, hiếm dân tộc nào, đất nước nào, cộng đồng cư dân nào trên thế giới phải chống ngoại xâm triền miên với thời gian kéo dài và số lượng các cuộc kháng chiến nhiều như dân tộc Việt Nam. Công cuộc đánh giặc giữ nước lâu dài quy tụ sức mạnh của toàn dân, kết tinh sức sống của toàn dân tộc, đánh dấu những bước trưởng thành vĩ đại của đất nước.
Trong lịch sử hàng nghìn năm từ khi dựng nước, dân tộc ta đã đánh thắng nhiều cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực nước ngoài. Kiên cường đánh giặc, giữ nước trở thành một truyền thống nổi bật, một dòng chủ lưu trong tiến trình lịch sử dân tộc.
 |
|
Bộ đội Sư đoàn 312 (Quân đoàn 1) diễn tập tác chiến. Ảnh: PHAN ANH
|
Tiếp nối truyền thống quý báu đó, bước sang thế kỷ XX, từ những cuộc vận động cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 22-12-1944, tại núi rừng Việt Bắc, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân ra đời. Có thể thấy, từ “những mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng” là Đội tự vệ của công nông-Xích vệ (Tự vệ đỏ) trong Xô-viết Nghệ Tĩnh những năm 1930-1931, cho đến Đội du kích Bắc Sơn ra đời trong Cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (1940), rồi phát triển thành 3 trung đội của Việt Nam cứu quốc quân. Trải qua quá trình đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang lâu dài, sự kiện lịch sử ngày 22-12-1944 đã đánh dấu một mốc quan trọng trong phong trào cách mạng Việt Nam. Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân với 34 chiến sĩ đã “quy tụ được kinh nghiệm của các đội vũ trang tiền thân, cả về tổ chức, địa bàn và phương thức hoạt động”, đánh dấu một bước trưởng thành về tư duy và chỉ đạo tổ chức thực tiễn quân sự của Đảng, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.
Trải qua xây dựng và chiến đấu không ngừng, từ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945, Cuộc chiến đấu bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, cho đến Cuộc kháng chiến chống Pháp, Cuộc kháng chiến chống Mỹ, Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Tây Nam, Chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc... với các tên gọi Việt Nam giải phóng quân, Vệ quốc đoàn, Vệ quốc quân, Quân đội quốc gia Việt Nam, Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và Quân đội nhân dân Việt Nam, đội quân vũ trang cách mạng của nhân dân Việt Nam đã nhanh chóng trưởng thành. Từ một lực lượng nhỏ bé khi mới ra đời, từng bước được xây dựng, lớn mạnh không ngừng về mọi mặt, dần hình thành các binh đoàn chủ lực cơ động cấp đại đoàn (1949-1952) và quân đoàn (1973-1975), làm lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc.
Chiến tranh là cuộc đọ sức khốc liệt một mất một còn, là sự thử thách toàn diện nhất sức sống của một dân tộc. Trong cuộc chiến đấu lâu dài đánh giặc giữ nước, bảo vệ sự trường tồn của dân tộc, lịch sử Việt Nam đã trải qua nhiều bước thăng trầm. Dân tộc ta đã đi một con đường đầy gian nan, nhưng rất đỗi tự hào. “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, trong những cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, các đội quân của chúng ta đã không khuất phục trước bất cứ kẻ thù nào, không sờn lòng trước bất cứ chông gai thử thách nào, luôn luôn hướng về phía trước, không ngừng vươn lên với ý chí kiên cường và từng bước trưởng thành cả về tổ chức, bản lĩnh, khả năng tác chiến, tư duy quân sự, “càng đánh càng mạnh”, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Lịch sử hàng nghìn năm đánh giặc giữ nước vừa thử thách, vừa tôi luyện, tạo cho dân tộc Việt Nam một ý chí kiên cường, một sức sống bền bỉ, hun đúc thành nhiều truyền thống tốt đẹp. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng”. Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế thừa và không ngừng phát huy truyền thống của các thế hệ ông cha để lại. Trải qua các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội ta càng chiến đấu càng mạnh, càng trưởng thành. Từ 34 chiến sĩ của Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân vào cuối năm 1944, đến nay Quân đội nhân dân Việt Nam đã trở thành một quân đội hùng mạnh với đầy đủ các quân, binh chủng chính quy, phát triển hiện đại, được nhân dân tin yêu và luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước cùng nhân dân tin tưởng giao phó.
HOÀNG THỊ THẢO – HÀ DUY BIỂN