QĐND Online - Cuối tháng 9-1972, khi hành quân đến một binh trạm phía tây Quảng Trị, đại đội tôi được lệnh bổ sung cho Sư đoàn 304 và Sư đoàn 308. Trước khi bàn giao quân cho đơn vị chiến đấu, đồng chí Minh, Chính trị viên trưởng đại đội khung huấn luyện thông báo: “Địch đã chiếm được Thành cổ Quảng Trị cách đây ít ngày”. Nghe tin này, anh em chúng tôi nhói đau trong ngực.
Hôm sau hành quân vào trận địa, chúng tôi xuôi theo dòng Thạch Hãn, tiến về phía Tích Tường, Như Lệ, cách Thành cổ Quảng Trị chừng 2km đường chim bay. Thỉnh thoảng đội hình hành quân phải dừng lại vì pháo địch bắn liên hồi. Chúng bắn theo tọa độ, hoặc nghi chỗ nào có quân ta, chứ chưa phát hiện ra đội hình hành quân của chúng tôi. Chiều tối, chúng tôi đến tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 36, Sư đoàn 308 đóng ở gần khe Như Lệ. Sau một ngày hành quân mệt nhọc, tôi ngủ như chết. Sáng hôm sau, tôi mang quần áo ra suối giặt, vừa đi được một đoạn, pháo địch nổ đùng đoàng ngay trước mặt. Có người quát: “Về hầm ngay, ông làm lộ mục tiêu rồi!”. Vì mới vào nên tôi chưa biết địch đang ở rất gần.
Tối đến, chúng tôi được phân công lên chốt. Tôi được chỉ định đi cùng một số đồng chí xuôi dòng Thạch Hãn, đến một quả đồi thấp, đó là trận địa chốt ở khu vực làng Tích Tường. Trong đêm tối mờ mờ, dọc theo bờ hào, ở các ụ súng đều có người canh gác, tất cả đều lặng lẽ. Tôi được chỉ đến một căn hầm, nhanh chóng cất ba lô vào đó. Vừa nghỉ ngơi được một lát thì có người đến báo: “Chuẩn bị đi trinh sát”. Tôi nghĩ, chắc chuẩn bị “vào trận” đây! Nhưng không phải, đồng chí tiểu đội trưởng thông báo: “Tối hôm qua, 6 chiến sĩ của đại đội đi làm nhiệm vụ quấy rối địch, bị pháo chúng bắn ra dữ quá, đến giờ còn hai đồng chí chưa thấy về, chúng ta phải đi tìm”.
 |
|
Viếng liệt sĩ tại Đài tưởng niệm liệt sĩ Thành cổ Quảng Trị.
|
Chúng tôi thận trọng men theo hai bên “đường tăng” (đường cơ động của xe tăng) tiến về trận địa địch, cố căng mắt tìm xem đồng chí mình có bị thương, còn nằm ở đâu đó. Trong đêm tối lờ mờ, thỉnh thoảng chớp lòe pháo sáng, tôi thấy xác địch nằm rải rác ở sườn đồi. Tới gần trận địa địch, chúng tôi quy định vị trí tập kết, rồi phân công nhau sục sạo kỹ theo các hướng, nhưng không thấy đồng đội để lại dấu vết gì. Pháo sáng địch vẫn bắn cầm canh trong đêm, soi rõ từng bụi mua và những chiếc mũ sắt của binh lính địch lấp ló bên công sự. Không tìm thấy đồng đội, tiểu đội trưởng dẫn chúng tôi về, báo cáo tình hình với chính trị viên. Vừa nghỉ được một lát, chính trị viên lại giao nhiệm vụ đi tìm ở một hướng khác, sâu hơn về phía sau lưng địch. Cũng như lần trước, chúng tôi chỉ thấy địch mà không thấy đồng đội mình. Một nỗi buồn khôn tả. Về đến công sự ẩn nấp, đã gần bốn giờ sáng.
Hôm sau, khi tôi đang ở vị trí cảnh giới, đồng chí Tàm, Chính trị viên đại đội (quê huyện Tiền Hải, Thái Bình) đến gặp tôi và lấy “trích ngang lý lịch”. Rồi tôi được bổ sung vào Trung đội 3, Đại đội 10. Quân số đại đội, kể cả số chúng tôi mới bổ sung chỉ có 37 người; các cán bộ đại đội đều bị thương và hy sinh, chỉ duy nhất còn lại Chính trị viên Tàm. Anh dặn tôi phải luôn tập trung quan sát về hướng “đường tăng”, bởi địch hay lợi dụng con đường này để tấn công ta, mấy hôm trước đã có một trận chiến đấu ác liệt với một trung đội địch tại đây.
Lúc này, tôi mới có điều kiện quan sát xung quanh. Tuyến “đường tăng” đất đỏ là đường xe tăng đi, vắt qua đồi từ bên kia sang. Đó cũng là hướng tấn công chủ yếu của binh lính Sư đoàn Thủy quân lục chiến ngụy. Khu vực Tích Tường, Như Lệ là vùng đệm bảo vệ Thành Cổ, nên địch tập trung đánh phá rất ác liệt. Cả làng Tích Tường và khu vực xung quanh bị bom, pháo địch cày xới, không còn một nóc nhà, bụi cây. Những cột, kèo, xà nhà, mái tôn được chúng tôi tận dụng làm hầm hào. Địch cách ta khoảng 400-500 mét, chúng đi lại khá ngang nhiên, vì khi đó hỏa lực pháo của ta còn hạn chế.
Chúng tôi lấy cành cây khô ngụy trang trước cửa hầm để quan sát địch qua khe lá, mọi hành động phải hết sức bí mật, không được để lộ mục tiêu cụ thể. Địch thấy ta đóng quân ở mỏm đồi nào, khu vực nào thì tập trung pháo bắn rất ác liệt, trung bình mỗi ngày chúng bắn hàng chục đợt pháo, cối khiến chúng tôi nghe đến… “quen tai”! Ngồi trong hầm nghe pháo bắn như giã gạo. Pháo “phạt” nghe đanh chói tai, pháo khoan đầm đầm nặng nặng, quả nọ chồng lên quả kia. Thường là sau những đợt pháo kích, địch lại lò dò tiến lên. Đợi cho chúng vào khu vực quy định, chúng tôi liền nổ súng. Cứ mỗi lần như thế, quân địch để lại một số xác chết rồi bỏ chạy. Cuộc chiến đấu giành giật diễn ra quyết liệt giữa ta và địch trên từng mỏm đồi, sườn núi. Chính trị viên Tàm luôn động viên chúng tôi:
- Bằng mọi giá chúng ta phải giữ vững chốt các đồng chí ạ. Tôi còn, các đồng chí còn, thì chúng ta còn chốt!
Bộ đội ta bị thương vong nhiều, chủ yếu do pháo địch bắn trúng hầm. Có những chiến sĩ hy sinh ban ngày, phải chờ đến tối, chúng tôi mới đưa được về phía sau để mai táng. Sự hy sinh, thương vong cứ đến từng giờ, từng ngày, bất kể lúc nào. Những ngày trên chốt vô cùng căng thẳng về tinh thần và thể xác. Hầu như cả ngày chúng tôi nằm trong hầm, người cong như con tôm, quần áo mặc trên người cứ ướt rồi lại khô, có khi cả tháng không tắm, tóc dài chùm tai, râu ria lởm chởm, mặt mày hốc hác. Những ngày mưa trắng trời, chúng tôi bì bõm lội trong chiến hào và luôn theo dõi sát địch. Nhiều ngày, chúng tôi phải ăn lương khô, uống nước từ các hố bom nặng mùi của thi thể phân hủy. Chúng tôi chỉ mong sao được ngồi thẳng lưng, được uống một chén nước chè, ăn một bữa cơm nóng... Trung đội phó Hồ Ngọc Tỵ (hiện là Thiếu tướng, Phó tư lệnh Quân khu 4), người trực tiếp chuyển thương binh, tử sĩ nhiều nhất và cũng rất có “kinh nghiệm” đi lấy cơm. Anh thường chọn thời điểm lúc pháo ngừng, “túm” cơm vào túi ni-lông, rồi bò lên chốt. Có hôm vừa mở ni-lông bọc cơm ra, thì trời mưa tầm tã. Chúng tôi liền cho ruốc vào đó làm “canh”. Vậy là mỗi anh em cũng được một vài thìa “canh” cho bữa cơm trên chốt dễ nuốt hơn!
Chốt ở Tích Tường gần một tháng, đơn vị tôi lại chuyển về chốt ở Như Lệ. Tiểu đội tôi có 6 người, gồm hai tổ, chốt ở mỏm đồi phía trước đồi Cây Mít. Ban chỉ huy đại đội bố trí ở đồi Cây Mít, sát khe Như Lệ. Có lần Chính trị viên Tàm lên thăm chúng tôi, suýt nữa thì hy sinh. May mà quả đạn của pháo địch bắn trúng thân cây mít to, che đỡ cho anh. Chốt ở hướng này không ác liệt như ở Tích Tường, nhưng mật độ đạn pháo, cối cũng không kém. Các trận chiến đấu diễn ra ác liệt cả ban ngày và ban đêm. Ban ngày, địch lên khu vực chốt nào của đơn vị bạn, đến mốc nào thì ta nổ súng…, chúng tôi đều “thuộc lòng”...
Khoảng giữa tháng 10, đơn vị chúng tôi được bổ sung một đợt chiến sĩ mới từ Thái Bình vào. Các anh hầu hết đang học dở cấp ba. Gặp đồng đội mới vào, chúng tôi rất vui và biết thêm nhiều thông tin, tình hình ngoài Bắc, đặc biệt là được “thưởng thức” những gói thuốc lào “đặc sản” của miền quê Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Một chiến sĩ tên Cảnh, trông rất thư sinh, nước da trắng, dáng người cao, thường kể cho tôi nghe những đêm học nhóm và ước mơ khi hết chiến tranh, lại được trở về mái trường học tập. Những ngày cuối tháng 10-1972, máy bay địch bay lượn, ném bom, bắn phá ít hẳn đi, pháo địch bắn cũng thưa hơn. Lúc này chúng tôi mới có điều kiện thư giãn một chút, nhìn lên trời xanh thấy mây bay lãng đãng. Những đám mây xa xa, trên cao, bay từ hướng Bắc vào. Mây như cũng có tâm hồn, mang theo tình cảm hậu phương, cùng những mơ ước, khát khao. Tôi thầm đọc những vần thơ của Chế Lan Viên mà trong những ngày hè đỏ lửa ở Quảng Trị, đã trở thành người bạn tinh thần của chúng tôi:
“…Ôi Tổ quốc, ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ, như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần ta chết
Cho mỗi căn nhà, ngọn núi, con sông…”
Hồi đó chúng tôi rất lãng mạn, thơ từ mái trường ra chiến trường đã ngấm vào trong tim từ lúc nào, giúp chúng tôi thêm tự tin, bình tĩnh, kiên gan hơn trong chiến đấu, kiên gan hơn trước bom đạn khốc liệt, cái chết cận kề, mặc cho địch liên tục rải truyền đơn ra rả chiêu hồi.
Đầu tháng 11 - 1972, đơn vị chúng tôi được rút ra khỏi chốt ở khu vực Đồi Đá, gần cao điểm 105, bàn giao trận địa lại cho Sư đoàn 312 chốt giữ. Tôi được giao nhiệm vụ ở lại bàn giao chốt. Buổi chiều, đồng chí An, Đại đội trưởng lên thăm, động viên tôi và căn dặn:
- Cậu cứ chuẩn bị sẵn nhiều lựu đạn, mở nắp ra, hễ thấy chúng lên là ném tới tấp. Địa hình ở đây dốc, có lợi thế lắm!
Tối đến, các đồng đội của tôi được lệnh đeo ba lô, lặng lẽ xuống chốt, rút ra ngoài. Còn lại một mình, nhớ lời đại đội trưởng, tôi kiểm tra lại vũ khí, chuẩn bị lựu đạn, tập trung quan sát, nghe ngóng mọi động tĩnh, trong đầu đã chuẩn bị sẵn các phương án chiến đấu. Nhưng thật may, đêm đó không có động tĩnh gì đáng kể. Tôi cung cấp tình hình địch, địa hình, phạm vi, vật chuẩn cho đơn vị bạn, rồi xuống tiểu đoàn bộ, rút ra cùng Tiểu đoàn phó Lình và một số đồng chí khác.
Ra đến Đồi Đá, anh em nghe tin địch lại nống mạnh ra Tích Tường, Như Lệ, chiếm được một số chốt, mà trong lòng bồn chồn, lo lắng. Nhưng ít ngày sau, chúng tôi nhận được tin vui: Bộ đội ta chiến đấu rất dũng cảm, ngoan cường, giữ vững trận địa. Chúng tôi càng thêm vững tin ở đồng đội, ở những cán bộ, chiến sĩ quả cảm, sẵn sàng chiến đấu hy sinh với tinh thần “Còn người, còn chốt!”.
Bài và ảnh: NGUYỄN NGỌC HIỆP