QĐND - Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972 của quân và dân ta trên chiến trường miền Nam khiến cho chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ đứng trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn. Với niềm hy vọng cuối cùng, ngày 17-12-1972, Tổng thống Mỹ Ních-xơn chính thức ra lệnh mở chiến dịch tiến công quy mô lớn bằng không quân, mang tên Linebacker II, với việc dùng máy bay ném bom chiến lược B-52 làm lực lượng chủ yếu, kết hợp sự hộ tống của không quân chiến thuật và không quân của hải quân. Mục đích là dùng sức mạnh của máy bay ném bom chiến lược B-52, đánh phá Thủ đô Hà Nội, Thành phố Hải Phòng và một số trung tâm công nghiệp của miền Bắc, để ép ta chấp nhận những điều kiện của Mỹ trên bàn đàm phán ở Hội nghị Pa-ri.

Qua 12 ngày đêm chiến đấu kiên cường (từ ngày 18 đến 30-12-1972) quân và dân ta đã đánh bại cuộc tập kích chiến lược bằng không quân của Mỹ, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pa-ri chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Đây là thắng lợi được xem như trận “Điện Biên Phủ trên không”, khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tài thao lược của Quân ủy Trung ương, sự sáng tạo trong nghệ thuật tác chiến của quân và dân ta. Thắng lợi 12 ngày đêm tháng 12-1972 để lại nhiều bài học về nghệ thuật chiến dịch, làm phong phú kho tàng nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Bộ Tổng tư lệnh họp bàn phương án tác chiến đánh máy bay B-52 tháng 12-1972. Ảnh tư liệu.

Trước hết đó là nghệ thuật tổ chức nắm vững mưu đồ và dự đoán đúng quy luật đánh phá của không quân chiến lược Mỹ. Trên cơ sở phân tích âm mưu và hành động của địch, Bộ Chính trị nhận định, địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, nhiều khả năng chúng sẽ dùng máy bay ném bom chiến lược B-52 đánh ồ ạt vào Hà Nội, Hải Phòng và giao nhiệm vụ cho Quân chủng Phòng không-Không quân tập trung mọi khả năng, nhằm đúng máy bay B-52 mà tiêu diệt. Do chuẩn bị tốt cả về chính trị tinh thần và cơ sở vật chất, ta phát hiện ra quy luật hoạt động trong giai đoạn đầu chiến dịch của địch. Do bị thiệt hại nặng, những ngày cuối tháng, địch thay đổi cách đánh, đổi đường bay, tiến hành đánh đồng thời trên 3 hướng và tập trung đánh nhiều mục tiêu, nhiều khu vực trong một đợt để lực lượng phòng không ta không đủ tên lửa để phóng cùng một lúc. Nhờ phán đoán đúng âm mưu của địch, hạ quyết tâm kịp thời, chính xác, triển khai công tác chuẩn bị đồng bộ, quân và dân ta đã giành được thế chủ động ngay từ đầu và duy trì nó trong suốt quá trình chiến dịch diễn ra.

Trong chiến dịch, ta đã tổ chức, sử dụng lực lượng hợp lý và hiệp đồng chặt chẽ giữa các binh chủng trong Quân chủng Phòng không-Không quân, giữa các lực lượng phòng không ba thứ quân để đánh các loại máy bay chiến lược, chiến thuật của địch cả ngày và đêm, sử dụng đúng lực lượng chủ yếu là tên lửa phòng không làm nòng cốt để đánh máy bay chiến lược B-52. Trong chiến dịch này ta đã huy động được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, xây dựng thế trận phòng không nhân dân rộng khắp, vững chắc, phối hợp hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa các lực lượng. Đến trước ngày 18-12-1972, riêng ở Hà Nội ta đã xây dựng được 30 trận địa tên lửa, hơn 100 trận địa cao xạ các loại, mỗi tiểu đoàn tên lửa đều có hơn 2 cơ số đạn, hệ số kỹ thuật của tên lửa bảo đảm 100%, pháo phòng không là 95% và của ra-đa là 96,5%. Bên cạnh các lực lượng phòng không chủ lực, tại Thủ đô Hà Nội ta đã tổ chức được 92 trận địa tập trung pháo phòng không tầm thấp, 4 đại đội cao xạ tầm trung (loại 100mm), nhiều trận địa được bố trí trên các tòa nhà cao tầng, gần các mục tiêu trọng điểm, đón lõng trên các đường bay của địch, ngoài ra còn có 1.122 tổ, đội dân quân, tự vệ phối hợp đánh trả máy bay địch. Mặt khác, ta đã tập trung một lực lượng phòng không chủ lực mạnh nhất cho chiến dịch: 3 sư đoàn phòng không 361, 363, 375; 23 tiểu đoàn tên lửa; 13 trung đoàn cao xạ; 4 trung đoàn không quân; 4 trung đoàn ra-đa; 3 trung đoàn, 2 tiểu đoàn phòng không của các quân khu Việt Bắc, Hữu Ngạn, Tả Ngạn. Ngoài ra còn có 346 đội với 1.428 khẩu pháo phòng không của dân quân, tự vệ. Toàn bộ lực lượng này được bố trí thành thế trận chiến dịch vững chắc, hiểm hóc tại các địa bàn trọng yếu ở trong và các vùng lân cận Hà Nội, Hải Phòng.

Để đánh bại cuộc tiến công của  địch, ta xác định chính xác 3 khu vực tác chiến lớn là Hà Nội, Hải Phòng và Đường số 1 Bắc, trong đó khu vực chủ yếu là Hà Nội, khu vực quan trọng là Hải Phòng, khu vực hỗ trợ là Đường số 1 Bắc. Xác định đúng hướng, đúng mục tiêu, lấy Hà Nội làm hướng chủ yếu để tập trung đánh, lấy máy bay B-52 làm mục tiêu chủ yếu để tiêu diệt trong một thời gian tương đối ngắn, đến một mức tổn thất mà địch không thể chịu nổi, chấp nhận thua, chấm dứt cuộc tập kích đường không chiến lược.

Cùng với chủ động tích cực đánh địch, tiêu diệt lực lượng tiến công chiến lược B-52, ta đã làm tốt công tác phòng tránh, vận động nhân dân sơ tán ra khỏi các trọng điểm đánh phá, chỉ đạo củng cố và xây dựng hầm trú ẩn, tổ chức tốt hệ thống thông tin-thông báo, quan sát báo động, triển khai các phương án làm giảm hiệu quả đánh phá của địch xuống mức thấp nhất. Bên cạnh đó, ta đã triển khai xây dựng các trận địa dự phòng, các sân bay dã chiến, sơ tán các xưởng trạm, tập kết vũ khí, đạn dược, nhất là đạn tên lửa... Cùng với mạng lưới tình báo quốc gia, ra-đa cảnh giới, Hà Nội còn có 36 còi báo động, 36 đài quan sát của thành phố, 414 trạm quan sát của các khu, huyện, hình thành mạng lưới quan sát rộng khắp từ xa đến gần, tổ chức hoàn chỉnh hệ thống cấp cứu phòng không bốn tuyến với 266 trạm ở các khu, huyện và 64 đội cấp cứu, 11 đội phẫu thuật lưu động.

Thắng lợi của Chiến dịch Phòng không 12 ngày đêm tháng 12-1972 là thắng lợi của tư tưởng tích cực chủ động, mưu trí sáng tạo của quân và dân ta, trong lịch sử 30 năm tiến hành chiến tranh giải phóng bảo vệ Tổ quốc. Những bài học của chiến dịch tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện và phát triển để vận dụng hiệu quả trong tổ chức, tác chiến phòng không trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao và các cuộc chiến tranh tương lai (nếu xảy ra) ở nước ta.

Đại tá Đào Văn Đệ (*)